Ngư dân Trung Quốc ngang nhiên tung hoành trên Biển Đông

05:48 |
Thụy My

Theo nhận xét của AFP trong bản tin hôm nay 10/03/2013 thì tuy Biển Đông nằm trong số vùng biển bị tranh chấp gay gắt nhất trên thế giới, nhưng ngư dân Trung Quốc vẫn ngang nhiên đánh cá ở nơi nào họ muốn, bất chấp sự phản đối của các nước láng giềng đang đòi hỏi chủ quyền.

Các tàu đánh cá Trung Quốc. REUTERS/Stringer

Hãng tin Pháp trích lời của Liang Min, một ngư dân 29 tuổi nói rằng : « Có hơi nguy hiểm, nhưng đây là vùng biển của Trung Quốc nên chúng tôi chẳng sợ. Biển Đông là của chúng tôi, việc gì mà phải ngưng lại ? ». AFP nhận định, thật ra chủ quyền trên Biển Đông đang bị tranh chấp với nhiều nước châu Á và ngư dân trên có nguy cơ dính líu vào những sự cố mang tính quốc tế, khi thường xuyên ngang dọc trên vùng biển mà căng thẳng đang dâng cao.

Bắc Kinh đòi hỏi vùng lãnh hải « lịch sử » rộng mênh mông tại Biển Đông. « Đường lưỡi bò » 9 điểm do Bắc Kinh tự ý vạch ra trên bản đồ từ năm 1940, chạy dài thậm chí đến đảo Bornéo, cách vùng duyên hải Trung Quốc đến hơn 1.000 cây số. Các nước láng giềng như Việt Nam, Philippines, Indonesia đều phẫn nộ khi phát hiện đường lưỡi bò này được in trên các hộ chiếu mới của Trung Quốc.

Khi phát biểu khai mạc phiên họp Quốc hội ngày 05/03/2013 Thủ tướng mãn nhiệm Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã nhấn mạnh rằng rằng Bắc Kinh quyết tâm « phát triển kinh tế biển (…) và bảo vệ các quyền và lợi ích trên biển ».

Đối với Wang, một chủ tàu cá ở Đàm Môn (Tanmen), thì đơn giản là : « Biển Đông là của chúng tôi, tổ tiên chúng tôi đã từng đánh cá ở đây ». Người chủ tàu sắp về hưu này mỗi ngày đều bủa lưới thu về nào mực, cá kiếm, cá nục…mang về cảng cá cũ kỹ nhưng sinh động của đảo Hải Nam, nơi có cả một đoàn tàu hùng hậu. Ông ta sử dụng lý lẽ của báo chí chính thức, vốn lặp đi lặp lại là ngư dân Trung Quốc đã qua lại trên vùng biển này từ thời Hán, tức 200 năm trước Công nguyên.

Biển Đông là tuyến đường hàng hải quan trọng, vận chuyển một phần ba lượng hàng hóa thương mại trên thế giới, và có tiềm năng dầu khí rất lớn. Nhưng các ngư phủ ở Đàm Môn thì chỉ quan tâm đến nguồn hải sản phong phú tại đây.

Tàu cá Trung Quốc ở ngoài khơi quần đảo Hoàng Sa – mà Trung Quốc đánh chiếm từ Việt Nam Cộng Hòa năm 1974 – đông đảo cho đến nỗi Liang kể rằng ê-kíp của mình phải đánh cá ban đêm để bắt các đàn cá đang say ngủ trong các rạn san hô.

Còn tại quần đảo Trường Sa – đang bị tranh chấp giữa Việt Nam, Đài Loan, Trung Quốc, Philippines, Malaysai và Brunei – thì « dễ dàng hơn vì còn ít tàu đánh cá », theo như bà Guo, đang hành nghề với chồng trên chiếc tàu dài 18 mét, mua được nhờ chính quyền địa phương cho vay. Bà nói : « Có hơi sợ một chút khi có nhiều tàu Việt Nam, nhưng số lượng tàu của chúng tôi đông đảo hơn và to hơn nên không ngại ».

Tuy vậy, theo AFP, nguy cơ đang là hiện thực : Bắc Kinh than phiền rằng từ năm 1989 đến nay đã có trên 11.000 thủy thủ Trung Quốc là nạn nhân của các vụ tấn công, bị cướp hay bị bắt giữ tại các nước khác. Bắc Kinh đã « đáp trả » bằng cách tăng cường lực lượng tuần tra. Trong một vụ xảy ra năm ngoái, Trung Quốc đã bắt giữ 21 ngư dân Việt Nam.

Mùa hè năm 2012, Bắc Kinh đã điều một tàu tuần tiễu đi hỗ trợ 30 tàu cá Trung Quốc đến tận Trường Sa. Hành động này cho thấy đánh cá chỉ là một cái cớ để Trung Quốc dấn tới trên bàn cờ.

Bắc Kinh cũng tăng tốc hiện diện quân sự, khi vào năm ngoái đã cho lập một thành phố mới và một đạo quân đồn trú tại Trường Sa. Đó là « thành phố Tam Sa », thành phố nhỏ thứ hai trên thế giới sau Vatican, với 1.000 dân sinh sống, trên vùng biển rộng đến 2 triệu km vuông mà Bắc Kinh tự cho mình là chủ nhân. Những dự án mở rộng du lịch cũng đang được tiến hành.

Ngày càng lo ngại, các nước láng giềng đã siết chặt thêm quan hệ với Hoa Kỳ và tăng cường lực lượng hải quân, đặc biệt là sau khi Trung Quốc cho trình diện chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên.
Nhưng theo ông Ngô Sĩ Tồn (Wu Shicun), Viện trưởng Viện quốc gia Nghiên cứu Biển Đông (NISCSS) của Hải Nam, thì sự bành trướng trên biển của Trung Quốc hãy còn « quá chậm ».

Ông ta nói : « Tôi hy vọng rằng chiếc hàng không mẫu hạm của chúng tôi sẽ sớm được gởi đến Nam Sa (từ ngữ mà Bắc Kinh dùng để chỉ Trường Sa). Trung Quốc đang chịu áp lực trên Biển Đông, nhất là với sự xuất hiện của Hoa Kỳ. Chúng tôi phải đóng một vai trò tích cực hơn ».

Triển vọng này làm cho ngư dân Liang rất phấn khởi : « Nay thì có các lực lượng công an ưu tú ở đây, tôi có thể đi đến bất cứ đâu mà chẳng sợ gì ! »

Theo RFI
Read more…

Thái Bình Dương : Mỹ lại lo ngại về hành động quyết đoán của Bắc Kinh

10:53 |
Trọng Nghĩa

Ngay sau khi Bắc Kinh loan báo tăng ngân sách quốc phòng, Hoa Kỳ liên tiếp lên tiếng bày tỏ thái độ quan ngại sự hiện diện quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc ở Thái Bình Dương. Phát ngôn viên Nhà Trắng Mỹ vào hôm nay 06/03/2013, đã tái khẳng định tư thế cường quốc Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.

Hải quân Mỹ hợp tác chặt chẽ với Nhật và các đối tác của
mình trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương (Reuters)

Tuyên bố của phát ngôn viên Nhà Trắng được đưa ra vài giờ sau khi Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ tuyên bố lo ngại trước việc Trung Quốc tăng cường tiềm năng quân sự và liên tiếp có những hành động quyết đoán tại vùng Biển Đông và biển Hoa Đông.

Trong cuộc họp báo thường kỳ, khi được hỏi về việc ngân sách quốc phòng Trung Quốc tăng hơn 10%, phát ngôn viên Nhà Trắng Jay Carney không bình luận trực tiếp mà nhắc lại rằng Hoa Kỳ « là một cường quốc Thái Bình Dương và có lợi ích đáng kể trong khu vực ».

Ông Jay Carney cho biết thêm là Washington luôn làm việc với các đối tác Trung Quốc trên một loạt vấn đề, cả về kinh tế lẫn an ninh. Về tình hình khu vực, phát ngôn viên phủ Tổng thống Mỹ xác nhận là Hoa Kỳ « làm việc rất chặt chẽ với các đối tác quốc tế của mình trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương ».

Trước đó, nhân một cuộc điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ, một tư lệnh hàng hàng đầu của quân đội Mỹ đã tuyên bố với các nhà lập pháp rằng việc quân đội Trung Quốc tăng cường uy lực đang khiến các nước trong khu vực châu Á Thái Bình Dương càng lúc càng lo ngại.

Theo Đô đốc Samuel J Locklear, Tư lệnh Lực lượng Mỹ tại vùng Thái Bình Dương, thì « nỗ lực của Trung Quốc tập trung chế tạo, thử nghiệm, và đưa vào hoạt động các loại máy bay, chiến hạm, vũ khí và hệ thống hỗ trợ mới đang làm gia tăng tâm lý quan ngại trong vùng. Nhiều nước châu Á lo ngại trước ý đồ của của Trung Quốc hiện nay và trong tương lai. Nhiều quốc gia đang tự hỏi là phải chăng ý đồ của Trung Quốc sẽ thay đổi với đà tăng cường của tiềm lực quân sự của họ ».

Một cách cụ thể, đô đốc Locklear nêu rõ một loạt hành động của Bắc Kinh tại các vùng biển bao quanh Trung Quốc : « Tàu Hải quân và các cơ quan thi hành luật biển Trung Quốc đã không ngừng hoạt động trong những năm gần đây nhằm cố gắng áp đặt các đòi hỏi chủ quyền biển đảo của Trung Quốc ở vùng Biển Đông và Biển Hoa Đông ».

Tư lệnh Mỹ nói tiếp : « Lập luận cứng rắn của Trung Quốc về các tính chất không thể chối cãi của các đòi hỏi chủ quyền của họ, kết hợp với hoạt động của đội tàu tuần tra dân sự và quân sự, cùng với phi cơ trên không phận và vùng biển xung quanh bãi Scarborough Reef và quần đảo Senkaku, đã làm cho căng thẳng gia tăng với Cộng hòa Philippines và Nhật Bản ».

Đô đốc Locklear còn tố cáo Trung Quốc « sử dụng các công cụ kinh tế và ngoại giao » nhằm gây sức ép buộc các nước phải chấp nhận yêu sách của Trung Quốc. Những hành động này đã buộc các đối tác và đồng minh của Mỹ trong khu vực Đông Á tìm kiếm thêm sự hỗ trợ và đảm bảo từ phía Hoa Kỳ.

Mối quan ngại cụ thể của Tư lệnh Thái Bình Dương là nguy cơ tính toán sai lầm là nổ ra xung đột giữa Nhật Bản và Trung Quốc tại vùng xung quanh quần đảo Senkaku. Bên cạnh đó, tại vùng Biển Đông, các vụ đối đầu định kỳ giữa tàu Trung Quốc và Việt Nam và những nỗ lực của Trung Quốc nhằm gây sức ép lên các công ty quốc tế để không thăm dò dầu khí cũng làm tăng thêm căng thẳng.

Theo RFI
Read more…

Tàu Trung Quốc gia tăng hoạt động tại Biển Đông

01:42 |
Trọng Nghĩa

Trong vòng không đầy một tháng, Trung Quốc liên tiếp tung cả chiến hạm lẫn tàu gọi là dân sự, xuống phô trương thanh thế tại vùng Biển Đông. Gần đây nhất là việc cử ba tàu hải giám đến hoạt động tại khu vực mà Bắc Kinh tự nhận là vùng biển của thành phố Tam Sa, tức là hầu như toàn bộ Biển Đông, sau khi đã phái hai chiếc khác đến khu vực vào hạ tuần tháng 02/2013.

Đội tàu Hải Tuần của Trung Quốc sẽ đi qua vùng biển của
Tam Sa, bao gồm Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa (Reuters)

Ngoài việc huy động các chiếc tàu trên danh nghĩa là dân sự, Trung Quốc vào đầu tháng 2 năm 2013 cũng không ngần ngại đưa tàu chiến vào tập trận trong vùng biển tranh chấp.

Trong một bản tin do đài truyền hình Trung Quốc CCTV phát đi vào hôm qua, 01/03/2013, một đội tàu hải giám đã rời cảng Tam Á phía nam đảo Hải Nam của Trung Quốc để xuống thực hiện điều được gọi là « nhiệm vụ tuần tra thường xuyên » ở vùng Biển Đông, nhằm « tăng cường năng lực thực thi pháp luật biển của Trung Quốc, và thử nghiệm khả năng phản ứng nhanh của đội tuần tra ».

Theo Cục An toàn Hàng hải Hải Nam, với hành trình hơn 2.000 hải lý kéo dài nửa tháng, đội tàu bao gồm ba chiếc Hải tuần 21, Hải tuần 31 và Hải tuần 166, sẽ đi qua các khu vực khác nhau trong vùng biển của thành phố Tam Sa, bao gồm các quần đảo Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa.

Thành phố Tam Sa là đơn vị hành chánh trực thuộc tỉnh Hải Nam được Bắc Kinh lập ra vào năm ngoái để quản lý hầu như toàn bộ vùng Biển Đông, kể cả các vùng biển đảo đang tranh chấp với Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan.

Một viên chức thuộc Cục An toàn Hàng hải Quảng Đông không ngần ngại cho biết là đội tàu hải giám Trung Quốc có « nhiệm vụ chính » là « kiểm tra các tuyến hàng hải, giám sát an toàn giao thông hàng hải và môi trường… và bảo đảm tự do hàng hải ở Biển Đông ».

Báo chí Trung Quốc đã liên tiếp loan tin về đợt tuần tra này, với video và hình tính đầy tính chất phô trương. Một trong những bức hình do hãng tin Nhà nước Trung Quốc công bố cho thấy một chiếc trực thăng trên sàn đáp của chiếc Hải tuần 31.

Các tờ báo Trung Quốc cũng không quên nhắc lại là đợt tuần tra vừa khởi động đã nối tiếp theo một chiến dịch tung ra ngày 20/02/2013, với hai chiếc tàu hải giám khác từ Quảng Châu đi xuống Biển Đông.

Trước đó, Bắc Kinh đã không che giấu ý định hù dọa các láng giềng đang tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông với Trung Quốc khi cử chiến hạm xuống tập trận tại Biển Đông. Ý nghĩa hù dọa này thể hiện qua việc các chiến hạm được đưa xuống vùng biển ở phía nam Trung Quốc lại thuộc Hạm đội Bắc Hải, trên nguyên tắc phụ trách vùng eo biển Đài Loan.

Theo nhận định của giáo sư Carl Thayer, chuyên gia kỳ cựu về Biển Đông, trong phân tích công bố ngày 13/02/2013, một trong những mục tiêu của hành động kể trên là cảnh cáo Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước khác trong khu vực rằng Hải quân Trung Quốc đã có đủ năng lực đi tác chiến tại các vùng rất xa căn cứ của mình, và các láng giềng phải chú ý đến các lợi ích của Bắc Kinh.

Đối với giáo sư Thayer, đội tàu hải giám và ngư chính của Trung Quốc cũng là một thế lực đáng gờm cho các nước Đông Nam Á tại Biển Đông. Trong bài nhận định kể trên, ông Thayer ghi nhận là các loại tàu này của Trung Quốc ngày có trọng tải lớn hơn và năng lực hoạt động mạnh hơn, có cả sân đáp cho trực thăng.

Đội tàu dân sự này vừa nhằm bảo vệ ngư dân Trung Quốc vừa nhằm « ngăn chặn không cho các quốc gia ven biển thực hiện quyền chủ quyền trong vùng biển tranh chấp được khoanh trong tấm bản đồ chín đường gián đoạn hình chữ U » đã được Bắc Kinh công bố.

Theo RFI
Read more…

Đài Loan thông báo tập trận tại đảo Ba Bình

02:59 |
Đức Tâm

Đài Loan ra thông báo sẽ tiến hành tập trận bắn đạn thật trên đảo Ba Bình, thuộc quần đảo Trường Sa vào tháng tới.

Theo lực lượng tuần duyên Đài Loan, cuộc tập trận sẽ bắt đầu ngày 09 và kéo dài đến 11/04 ở đảo Ba Bình, thuộc quần đảo Trường Sa, nơi đang có tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei.

Đài Loan thông báo tập trận ở Ba Bình.REUTERS/Stringer

Vẫn theo nguồn tin trên, trong số các vũ khí được sử dụng trong cuộc tập trận có pháo 40 mm và 120 mm mà Đài Loan đã đưa đến đảo Ba Bình từ năm ngoái với lý do để tăng cường khả năng phòng thủ tại quần đảo Trường Sa.

Vùng quần đảo Trường Sa có diện tích khoảng 5 km vuông, với hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ, bãi đá, trong đó lớn nhất là đảo Ba Bình. Đài Loan chiếm giữ đảo này và xây dựng ở đây một trạm đồn trú của lực lượng tuần duyên.

Việt Nam tuyên bố có chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa và đã lên tiếng phản đối trước việc Đài Loan đưa thêm vũ khí đến đảo Ba Bình hồi năm ngoái.

Tất cả các bên có tranh chấp chủ quyền ở vùng quần đảo Trường Sa, ngoại trừ Brunei, đều có quân đội đồn trú trên các đảo ở Trường Sa.

Các tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và giữa Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei đối với Trường Sa đã làm cho tình hình tại Biển Đông thêm nóng bỏng, đặc biệt gây căng thẳng trong quan hệ giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines.

Đảo Ba Bình

Ba Bình là hòn đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đài Loan tham gia vào tranh chấp lãnh thổ trên quần đảo Trường Sa, hiện chiếm giữ Ba Bình, một trong những đảo quan trọng của quần đảo. Bất chấp sự phản đối của Việt Nam và các bên đòi chủ quyền khác, Đài Loan đã cho xây đường băng trên đảo, và đang có ý định kéo dài đường băng 1.150 mét này thêm khoảng 300-500m.

(RFI)
Read more…

Biển Đông : Việt Nam cần hỗ trợ Philippines trong vụ kiện Trung Quốc

06:28 |
Trọng Nghĩa

Cho dù bị Bắc Kinh từ khước, Manila vẫn kiên quyết tiếp tục nhờ Tòa án Trọng tài Liên Hiệp Quốc phân xử về tính chất phi pháp của đường chín đoạn mà Trung Quốc vạch ra nhằm tranh giành chủ quyền tại Biển Đông. Trong lúc Philippines mạnh dạn đối đầu với Trung Quốc trên hồ sơ này, Việt Nam – nước có nguy cơ bị đường lưỡi bò gây thiệt hại nhiều nhất – lại duy trì một thái độ hết sức thận trọng, không công khai ủng hộ việc làm của nước đồng hội đồng thuyền với mình.

Biểu ngữ của người biểu tình tại Hà Nội : "Trung Quốc đừng
đụng vào Việt Nam". Reuters
Trả lời phỏng vấn của RFI, giáo sư Ngô Vĩnh Long (Đại học Maine, Hoa Kỳ) cho rằng đã đến lúc Việt Nam cần phải tỏ thái độ mạnh mẽ hơn để hỗ trợ việc làm « đúng hướng » và « tích cực » của Philippines.

Ngày 19/02/2013 đại sứ Trung Quốc tại Philippines, bà Mã Khắc Khanh đã tuyên bố rằng Bắc Kinh bác bỏ đề nghị của Manila là hai bên cùng ra trước Tòa án Trọng tài Liên Hiệp Quốc về Luật Biển để nhờ phân xử về tấm bản đồ « lưỡi bò » của Trung Quốc, xâm phạm các vùng ngoài Biển Đông mà Philippines xác định thuộc chủ quyền của mình.

Phần âm thanhhttp://www.rfa.org/rfa_resources/graphics/icon-listen.pnghttp://www.rfa.org/rfa_resources/graphics/icon-download.png

Phản ứng của Trung Quốc không có gì đáng ngạc nhiên, cũng như phản ứng tiếp theo của Philippines một hôm sau (ngày 20/02/2013), khi chính quyền Manila - bất chấp tuyên bố bác bỏ của Trung Quốc - đã tái khẳng định quyết tâm tiếp tục vụ kiện, điều mà Philippines hoàn toàn có quyền xúc tiến chiếu theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển UNCLOS 1982 mà cả hai nước đều ký kết.

Cuộc đọ sức Philippines – Trung Quốc khởi đầu ngày 22/01/2013, với việc chính quyền Manila đã chính thức loan báo quyết định kiện “đường lưỡi bò” phi pháp của Trung Quốc ra trước Tòa án Quốc tế về Luật Biển ITLOS trong khuôn khổ Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS).

Mục tiêu của Philippines là muốn Liên Hiệp Quốc xác nhận tính chất « phi pháp » của tấm bản đồ « chủ quyền lưỡi bò » đang được Trung Quốc sử dụng để áp đặt chủ quyền trên Biển Đông. Hành vi quyết đoán của Trung Quốc không chỉ nguy hại cho Philippines, mà còn phủ nhận chủ quyền của ba nước ASEAN khác là Brunei, Malaysia, và nhất là Việt Nam, quốc gia được cho là sẽ bị thiệt hại nhiều nhất nếu đòi hỏi chủ quyền quá đáng của Bắc Kinh tại Biển Đông không bị ngăn chặn.

Thế nhưng cho đến nay, cả ba nước Đông Nam Á « nạn nhân » còn lại của Trung Quốc, về mặt công khai, đều tránh tuyên bố ủng hộ hành động đối phó với Trung Quốc của Philippines.

Nước Đông Nam Á hiếm hoi có phản ứng, nhưng rất thận trọng, chính là Việt Nam. Hai hôm sau khi Philippines loan báo việc kiện Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế, ngày 24/01/2013, trả lời báo chí về sự kiện này, chính quyền Việt Nam, qua lời ông Nguyễn Duy Chiến, phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia thuộc Bộ Ngoại giao chỉ nhắc lại :

« Lập trường nhất quán của Việt Nam là các vấn đề liên quan đến Biển Đông cần phải được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS… Việt Nam cho rằng « các quốc gia hoàn toàn có quyền lựa chọn các biện pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc, luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 ».

Nội dung tuyên bố này được cho là quá thận trọng, chỉ « hàm ý ủng hộ » Philippines, trong lúc cấp đưa ra tuyên bố lại chỉ là một phó chủ nhiệm ủy ban thuộc Bộ, chứ không phải là Phát ngôn viên. Câu hỏi đặt ra là tại sao Việt Nam lại quá e dè như vậy trước một hành động được nhiều chuyên gia cho là đúng hướng của Philippines, và có thể có ảnh hưởng tích cực đối với tất cả các nước Đông Nam Á đang bị Trung Quốc lấn lướt tại Biển Đông.

Quyết định kiện Trung Quốc của Philippines : đúng hưóng và tích cực

Giáo sư Ngô Vĩnh Long, thuộc Đại học Maine, Hoa Kỳ, chuyên gia kỳ cựu về Biển Đông đã tìm cách giải thích thái độ thận trọng của Việt Nam bằng sự lệ thuộc kinh tế quá nặng, sợ bị lâm vào tình trạng « nước xa, lửa gần ». Tuy nhiên, theo giáo sư Long, Việt Nam không thể tiếp tục chần chờ mà phải tỏ thái độ kiên quyết hơn để chống lại đường lưỡi bò của Trung Quốc, không được quyền để cho Philippines trở thành một con chốt bị thí trong cuộc đấu tranh chống lại việc Trung Quốc độc chiếm Biển Đông.

Phần âm thanhhttp://www.rfa.org/rfa_resources/graphics/icon-listen.pnghttp://www.rfa.org/rfa_resources/graphics/icon-download.png
Giáo sư Ngô Vĩnh Long
Đại học Maine (Hoa Kỳ)


Mời quý vị theo dõi bài phỏng vấn Giáo sư Ngô Vĩnh Long dành cho RFI, trong đó ông nhấn mạnh trước tiên đến tính chất « đúng hướng và tích cực » trong quyết định của Philippines tiếp tục đưa đường lưỡi bò ra trước Tòa án Trọng tài Liên Hiệp Quốc, bất chấp sự bác bỏ của Bắc Kinh.

Ngô Vĩnh Long : Trước hết việc Philippines quyết tâm tiếp tục đưa Trung Quốc ra trước Tòa án Trọng tài Liên Hiệp Quốc về đường lưỡi bò và một số vấn đề liên quan khác - mà Trung Quốc qua đó đe dọa an ninh Philippines - là một việc làm đúng hướng và rất tích cực.

Còn việc Trung Quốc bác bỏ yêu cầu của Philippines chứng minh thái độ ương ngạnh, bất chấp hiệp ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển mà chính Trung Quốc đã ký kết. Nhưng việc này không thể nào bắt tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc bác bỏ yêu cầu của Philippines.

Theo UNCLOS mà Trung Quốc và 164 nước khác đã công nhận và ký kết, thì sau khi một nước đã chính thức khởi tố, như Philippines đã làm, và đề nghị một trong 5 vị thẩm phán cho phiên tòa, thì bên bị cáo, trong trường hợp này là Trung Quốc, có 30 ngày để đề nghị một vị thẩm phán thứ hai. Sau đó hai bên, bên khởi tố và bên bị cáo, có thêm 60 ngày để đồng ý trên việc chọn lựa ba vị thẩm phán còn lại.

Nếu bên bị cáo không đề nghị một vị thẩm phán, hay nếu hai bên không đồng ý trên việc chọn ba vị còn lại, thì phiên tòa xét xử vẫn tiếp tục được hình thành, nhưng trong trường hợp này thì chủ tịch của tòa án quốc tế Liên Hiệp Quốc về Luật Biển ITLOS sẽ chọn các vị thẩm phán còn lại.
Do đó, nếu Trung Quốc tiếp tục bác bỏ việc đưa đường lưỡi bò và các vấn đề liên quan ra trước Tòa án Liên Hiệp Quốc, thì phiên tòa vẫn được tiếp tục.

Không chỉ đem Trung Quốc ra trước Liên Hiệp Quốc, mà còn là đem ra trước tòa án công luận

Chúng ta cũng nên nhớ rằng vấn đề quan trọng ở đây không chỉ là đem Trung Quốc ra trước Liên Hiệp Quốc, mà còn là đem Trung Quốc ra trước tòa án công luận, hay tòa án chính luận quốc tế, thì chính việc Trung Quốc bác bỏ đề nghị của Philippines, đã đưa Trung Quốc vào thế bị động trước công luận quốc tế, đặc biệt là vì Trung Quốc là một cường quốc đang lên, mà lại có những hành động bất chấp luật pháp !

Ở đây tôi cũng xin nói thêm rằng trong khi Trung Quốc bác bỏ việc ra trước tòa án Liên Hiệp Quốc về Luật Biển trong trường hợp của Philippines, thì họ lại cũng đang dùng UNCLOS để đưa Nhật ra tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc về đảo Senkaku/Điếu Ngư.

Bên làm thế này, bên làm thế kia (…), Trung Quốc không thể nào xử sự một cách ngang tàng như trong hai trường hợp mà tôi vừa mới đề cập đến mà không bị tòa án công luận quốc tế dị nghị.
Thì việc làm của Philippines đẩy Trung Quốc vào thế bị động rất lớn. Tôi nghĩ rằng nếu mà Trung Quốc tiếp tục phủ nhận việc này (yêu cầu của Philippines, thì họ chỉ phá vỡ Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển mà thôi, và tôi nghĩ rằng Trung Quốc chắc là sẽ không dám làm việc đó.

RFI : Giáo sư nhận xét như thế nào về phản ứng công khai của Việt Nam về việc Philippines kiện Trung Quốc ?

Ngô Vĩnh Long : Đến nay Việt Nam rất thận trọng, không biết là phía trong Việt Nam đã có dàn xếp gì, hay nói chuyện gì với Philippines hay chưa, (chẳng hạn như) nói rằng « Anh nên đi bước đầu, để rồi sau đó chúng tôi sẽ làm theo, sẽ xem cái hướng như thế nào, để rồi chúng tôi sẽ đẩy mạnh dư luận quốc tế, hoặc là đẩy mạnh các nước trong ASEAN » ?

Dù « nước xa lửa gần » nhưng không thể chần chừ

Thực sự ra tôi không biết là Việt Nam đã làm gì, nhưng mà bề ngoài thì đến nay Việt Nam rất thận trọng, thận trọng đến nỗi mà đã nhiều lần cấm nhân dân biểu tình về vấn đề Biển Đông.

Cũng có lý do khiến Việt Nam thận trọng : Trên hầu hết các lãnh vực,Việt Nam có quan hệ rất gần gũi với Trung Quốc, cho nên Việt Nam có thể nghĩ rằng nếu chưa có sự ủng hộ mạnh mẽ của nhiều nước, mà mình lại sát Trung Quốc, thì « nước xa mà lửa gần », chưa có nước mà lửa nó đã bốc cháy ở tất cả các làng xã rồi thì lúc đó có thể là dẹp không kịp.

Ngoài những vấn đề chung của đất nước là vấn đề liên hệ kinh tế. Về kinh tế, thương mại hai bên rất lớn, Việt Nam là nước bị nhập siêu nhiều nhất với Trung Quốc, hàng Trung Quốc đi vào Việt Nam lan tràn…Cũng có thể nói đến ngân hàng : Hầu hết các ngân hàng Việt Nam đã bị Trung Quốc chi phối. Có những số liệu tôi không thể kể ra được, nhưng rất đáng ngại, Rồi trong các lãnh vực đầu tư trong nước…

Cho nên lợi ích của nhiều người trong vấn đề này rất lớn, dẫu mà lãnh đạo Việt Nam có để ý đến những vấn đề này, thì tôi chắc là họ cũng rất đang bối rối, không biết làm như thế nào để Trung Quốc khỏi phản ứng mạnh, gây ra khó khăn, nếu không muốn nói là sụp đổ ở nhiều lãnh vực.

Nhưng tôi nghĩ là Việt Nam không thể tiếp tục đi cái đường như hiện nay, vì như vậy, không những làm cho dân chúng bất mãn, mà còn làm cho những nước ở bên ngoài không biết là có thể trợ giúp Việt Nam cho đến đâu, cũng không biết là có phải Việt Nam đi đêm với Trung Quốc…

Đến một lúc nào đó, Việt Nam phải có những hành động cụ thể, chứng tỏ nỗ lực trong việc bảo vệ an ninh của chính mình, cũng như của toàn khu vực…

Theo tôi không thể chần chờ mãi được, càng chần chờ càng yếu thế đi. Trong khi nhân dân trong nước vẫn còn ủng hộ chính phủ…, và nước ngoài họ cũng đang muốn ủng hộ Việt Nam, càng ngày càng nhiều, thì chính phủ Việt Nam phải có sự lựa chọn.

RFI : Việt Nam có thể làm gì ?

Ngô Vĩnh Long : Trước hết nên củng cố lòng tin của nhân dân trong nước. Vấn đề là phải chứng minh cho nhân dân trong nước là chính phủ Việt Nam không phải cái gì cũng nghe theo Trung Quốc, chứng minh là chính phủ Việt Nam và chế độ ở Việt Nam đang trên đà dân chủ hóa, để được sự ủng hộ của dân chúng.

Củng cố lòng tin trong nước để tranh thủ hậu thuẫn bên ngoài

Vấn đề dân chủ hóa bên trong rất quan trọng trong vấn đề lấy được sự ủng hộ và lòng tin của nước ngoài. Nếu mà vì sợ Trung Quốc gây khó khăn mà đàn áp những người có lòng yêu nước, chống Trung Quốc, bắt họ bỏ vào tù, dầu là không lâu đi nữa, thì cũng gây phản ứng không tốt, không những trong nước, mà cả đối với nước ngoài.

(…) Một nước Việt Nam có chính thể không dân chủ, đàn áp dân chúng, thì khó có được sự ủng hộ của dân chúng để tạo sức mạnh bên trong, chống lại sự lũng đoạn của nước ngoài, trong trường hợp này là Trung Quốc, mà cũng khó lấy được sự ủng hộ của các nước trong khu vực hay trên thế giới.

(…) Philippines – vì là một nước xa Trung Quốc, quan hệ đối với Trung Quốc cũng rất là nhỏ, cho nên Philippines thấy là họ có thể đi đầu. Khi người ta đi đầu, và đúng hướng, thì không nên để cho người ta thành con tốt bị thí...

Theo RFI
Read more…

Trung Quốc bắt nạt láng giềng ở biển Ðông

06:43 |
Sĩ quan Hải Quân Mỹ báo động

SAN DIEGO (NV) - Một sĩ quan cao cấp Hải Quân Hoa Kỳ báo động Trung Quốc ngày càng gia tăng các hành động bá quyền trên biển, gây mất ổn định và an ninh khu vực Á Châu Thái Bình Dương.

Tàu Hải Giám 75 của Trung Quốc (trọng tải 1,000 tấn) tuần
tra ở biển Ðông. (Hình: Hải Quân Trung Quốc Navy81.com)

“Chắc chắn là Hải Quân Trung Quốc đang đặt trọng tâm vào hải chiến và nhằm đánh chìm hạm đội đối phương”. Ðại Tá Hải Quân James Fanell, phó trưởng ban tham mưu hành quân đặc trách tình báo của Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ, phát biểu trong một cuộc hội thảo về quốc phòng tổ chức ở San Diego ngày cuối Tháng Giêng 2013 vừa qua nhưng mới được tường thuật trên báo chí gần đây.

Lời bình luận của một viên chức cao cấp của ngành tình báo Hải quân Mỹ diễn ra trong bối cảnh của các căng thẳng giữa Trung Quốc với các nước trong khu vực từ quần đảo Senkaku trên biển Hoa Ðông với Nhật Bản và khu vực biển Ðông với Việt Nam và Philippines.

Ông Fanell cho biết Trung Quốc sử dụng các lực lượng “ủy nhiệm” thay cho tàu hải quân để leo thang các hoạt động kiểm soát và khẳng định chủ quyền ở các khu vực biển tranh chấp.

Ðó là đội tàu Hải Giám và Hải Tuần rất đông đảo và lớn mạnh, một số là chiến hạm biến cải. Trừ Nhật Bản có khả năng đối phó, các nước nhỏ như Việt Nam và Philippines thì lép vế hoàn toàn. Cùng với các đội tàu vừa kể, các tài hải quân Trung Quốc thường xuyên mở các cuộc tập trận và tuần tiễu, thách đố sự hiện diện của tàu hải quân các nước khác.

Tàu Trung Quốc “thường xuyên thách thức khu đặc quyền kinh tế mà Nam Hàn, Nhật Bản, Philippines, Malaysia, Burnei, Indonesia, Việt Nam, từng được cho là được bảo đảm theo Công Ước Quốc Tế về Luật Biển”, theo lời ông Fanell.

“Trung Quốc thách thức quyền của các nước khác”, ông Fanell nói Bắc Kinh xác định “cái gì của tao là của tao, còn cái gì của mày thì phải đàm phán”.

Cho tới nay, Trung Quốc mới chỉ chiếm được 7 bãi san hô ngầm ở quần đảo Trường Sa nhưng đã thiết lập tới 8 căn cứ quân sự trên đó.

Ông Fanell gọi đoàn tàu Hải Giám của Trung Quốc là “lực lượng sách nhiễu thường trực chủ quyền các nước trong khu vực chứ không có phận sự gì khác”.

Ông dùng từ “bành trướng” để mô tả các hành động của Trung Quốc. Theo ông nếu quan sát các hoạt động của Trung Quốc trong thập niên qua, không có gì mô tả đích xác hơn là dùng từ đó.

Hành động mới nhất của Trung Quốc khi uy hiếp, đẩy tàu Philippines ra khỏi khu vực bãi đá Scarborough Shoal mà Bắc Kinh gọi là Hoàng An đảo, rồi củng cố chiếm đoạt nơi này hồi năm ngoái là một thí dụ điển hình về chủ trương bành trướng, chiếm đoạt.

Theo ông Fanell, Trung Quốc “chèn ép” các nước khác là một phần trong chủ trương và hành động được tính toán kỹ lưỡng.

“Người ta có thể nhìn thấy trước là các hành động của Trung Quốc đang làm mất ổn định vùng biển Á Châu”, theo ông Fanell.

Trung Quốc gấp rút cải tiến và gia tăng lực lượng hải quân của họ 5 năm qua để kiểm soát không những các vùng biển gần bờ mà còn vươn ra các vùng biển xa. Chủ đích là đối phó với hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ.

Ông Fanell cho biết trong năm 2012, Trung Quốc đã đưa 7 đoàn chiến hạm và một lực lượng tàu ngầm đông đảo vào biển Ðông, một hành động chưa từng có trước đây.

Ông lên án ở cuộc hội thảo tại San Diego về những gì Trung Quốc nêu ra làm bằng chứng lịch sử để cả quyết gần hết biển Ðông là của Trung Quốc là “bịa đặt lịch sử” nhằm hậu thuẫn cho chủ trương bá quyền bành trướng khi tự thấy sức mạnh quân sự ăn trùm các nước khỏ ở khu vực.

“Trung Quốc đang kiểm soát các vùng biển mà họ chưa từng kiểm soát hay bảo vệ trong lịch sử 5,000 năm của Trung Quốc”. Ông nói.

Ông coi Trung Quốc là sự đe dọa chính yếu đối với an ninh và hòa bình của khu vực biển Ðông.

Trong bản tin ngày Thứ Hai 11 tháng 2 năm 2013, Tân Hoa Xã loan tin là hai đoàn tàu Hải Giám của họ đang thi hành các nhiệm vụ tuần tra ở biển Hoa Ðông và biển Ðông (họ gọi là Nam hải).

Ba tàu Hải Giám mang số 50, 51 và 137 tuần tra khu vực Ðiếu Ngư quần đảo (tức Senkaku Nhật Bản). Ðồng thời, các tàu Hải Giám mang số 75 và 167 tuần tiễu khu vực biển Ðông.

Mới mấy ngày trước, một viên chức Bộ Canh Nông Trung Quốc loan báo các tàu “ngư chính” của họ tuần tiễu thường xuyên hàng ngày trên biển Ðông.

Ngày 22 tháng 1, 2013, Philippines đưa Trung Quốc ra kiện tại Tòa Án Quốc Tế theo Công Ước Quốc Tế về Luật Biển với hy vọng giải quyết dứt điểm cái vạch “Lưỡi Bò” ngang ngược của Bắc Kinh chiếm gần hết biển Ðông. (T.N.)

Theo Người Việt
Read more…

Brunei chủ tịch ASEAN : Trung Quốc khó lòng o ép như đối với Cam Bốt

06:51 |
Arnaud Dubus / Trọng Nghĩa

Logo của ASEAN 2013 tại Brunei

Năm nay 2013, Brunei chính thức thay Cam Bốt giữ chức chủ tịch ASEAN. Thời kỳ Cam Bốt nắm quyền lãnh đạo Hiệp hội các nước Đông Nam Á đã diễn ra một cách rất tệ hại cho toàn khối, vì Phnom Penh đã thẳng thừng chiều theo quan điểm của Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông. Theo thông tín viên Arnaud Dubus phụ trách khu vực Đông Nam Á, dù là một nước tí hon, lại có quan hệ kinh tế chặt chẽ với Trung Quốc, nhưng Brunei sẽ không quỵ lụy Bắc Kinh như Phnom Penh đã làm trong năm vừa qua.

Từ tháng Giêng năm nay 2013, Brunei chính thức lên thay Cam Bốt giữ chức chủ tịch luân phiên ASEAN. Thời kỳ Cam Bốt nắm quyền lãnh đạo Hiệp hội các nước Đông Nam Á đã diễn ra một cách rất tệ hại cho toàn khối, mà ví dụ điển hình là sự kiện các quốc gia ASEAN đã không công bố được một thông cáo chung nhân Hội nghị Ngoại trưởng vào tháng 7/2012 tại Phnom Penh.

Thất bại đó bắt nguồn từ việc Cam Bốt thẳng thừng chiều theo quan điểm của Trung Quốc trên vấn đề căng thẳng ở Biển Đông.Câu hỏi đặt ra hiện nay là liệu việc Brunei - quốc gia nhỏ bé, và ít dân cư nhất trong số các nước Đông Nam Á - lên giữ chức chủ tịch có mang lại thay đổi gì hay không ?

Thông tín viên Arnaud Dubus tại Bangkok
10/02/2013 by Trọng Nghĩa


Theo thông tín viên Arnaud Dubus phụ trách khu vực Đông Nam Á, dù là một nước tí hon, lại có quan hệ kinh tế chặt chẽ với Trung Quốc, nhưng Brunei sẽ không quỵ lụy Bắc Kinh như Phnom Penh đã làm trong năm vừa qua. Đánh giá về khả năng Brunei có thể vãn hồi tình hình trong khối ASEAN vốn đã bị nhiệm kỳ chủ tịch của Cam Bốt làm xấu đi đáng kể, Arnaud Dubus có nhận xét tương đối lạc quan :

Arnaud Dubus : Phải nói trước hết là khó có nước nào có thể làm tệ hơn Cam Bốt trong vai trò chủ tịch ASEAN. Trong lịch sử của mình, chưa bao giờ Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á bị suy yếu đi như thế vì lập trường 100% đi theo Trung Quốc của Phnom Penh.

Tình hình chắc chắn sẽ khác hơn đối với Brunei, một trong những nước cũng có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông với Trung Quốc, cùng với Việt Nam, Philippines và Malaysia. Dĩ nhiên là Brunei không năng động như Hà Nội hay Manila trên vấn đề này, nhưng Brunei đã ủng hộ việc thành lập một bộ quy tắc ứng xử chung mang tính chất răng buộc trong vùng biển có tranh chấp.

Tuy nhiên, sự năng động của Brunei trên hồ sơ tranh chấp Biển Đông trong giai đoạn họ làm chủ tịch có thể bị giới hạn do các quan hệ kinh tế quan trọng mà Bandar Seri Begawan muốn duy trì với Bắc Kinh.

Bắc Kinh là khách hàng rất quan trọng mua khí đốt và dầu hỏa mà Brunei khai thác ngoài khơi của mình. Đây là một yếu tố quan trọng vì năng lượng chiếm đến 90% xuất khẩu của tiểu vương quốc này.

Song song với xuất khẩu, hàng lượng hàng Brunei nhập khẩu từ Trung Quốc cũng gia tăng mạnh mẽ trong thời gian gần đây, và kim ngạch thương mại song phương Trung Quốc-Brunei đã lên đến 1,3 tỷ đô la trong năm 2011. Những tập đoàn lớn của Trung Quốc đã đầu tư vào các đề án khai thác dầu khí hay lọc dầu ở Brunei.

Tóm lại, ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc rất lớn đối với Brunei, đúng vào lúc mà đất nước này chuần bị đối phó với một viễn cảnh kinh tế không sáng sủa khi mà trữ lượng dầu khí của họ có nguy cơ cạn kiệt.

Tuy vậy, điều đó không có nghĩa là Brunei sẽ tuân theo các chỉ thị của Trung Quốc.

RFI : Brunei là quốc gia nhỏ bé nhất ASEAN, cho dù đó là một nước tương đối giàu có nếu tính trên thu nhập bình quân theo đầu người. Nhưng trên hồ sơ tranh chấp chủ quyền ngoài Biển Đông, liệu tình hình rắc rối hiện nay sẽ vượt quá tầm kiểm soát của Brunei ?

Arnaud Dubus : Dĩ nhiên là Brunei không phải là một thành viên nặng ký của ASEAN, không chỉ là vì dân số quá ít – không đầy 400.000 dân - mà còn là vì Brunei không phải là nước sáng lập khối Đông Nam Á, họ chỉ gia nhập ASEAN vào năm 1984, tức là 17 năm sau khi Hiệp hội được thành lập.

Tuy nhiên, nhiệm kỳ chủ tịch luân phiên của Brunei này có thể là một cơ hội để tiểu vương quốc này khẳng định thế đứng của mình một cách mạnh mẽ hơn trong khu vực. Đây là một cơ hội lý tưởng cho Brunei vì nhiệm kỳ chủ tịch của Cam Bốt trước đó đã có kết quả quá tồi tệ.

Quốc vương Brunei, người đứng đầu một chế độ quân chủ chuyên chế duy nhất trong vùng, cần chứng tỏ uy tín chính trị của ông, không những đối với dân chúng Brunei, mà cả đối với khu vực.

Ngoài ra, cũng cần phải ghi nhận rằng cho dù quan hệ kinh tế Brunei - Trung Quốc rất chặt chẽ, nhưng đó không phải là một sự thống trị kinh tế của Bắc Kinh như đối với Cam Bốt, nước đã được hưởng rất nhiều khoản tín dụng đặc biệt ưu đãi và những khoản tiền cho không của Trung Quốc.

Hiện đã có nhiều dấu hiệu rất đáng khích lệ. Khi Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang viếng thăm Brunei vào tháng 11 năm ngoái (2012), quốc vương Brunei đã khẳng định trở lại hậu thuẫn của ông đối với bản Tuyên bố Ứng xử ở Biển Đông (DOC) mà ASEAN và Trung Quốc đã ký năm 2002, cũng như đối với một bộ Quy tắc ứng xử trong vùng.

Bandar Seri Begawan do đó hoàn toàn có thể là sẽ đưa ra bàn bạc trở lại vấn đề thiết lập bộ quy tắc ứng xử có tính ràng buộc ở Biển Đông, điều mà Hà Nội và Jakarta đã từng làm trước nhiệm kỳ chủ tịch của Phnom Penh.

RFI : Trung Quốc sẽ phải xử sự như thế nào với Brunei khi mà Tiểu vương quốc này đã làm chủ tịch ASEAN ?

Arnaud Dubus : Rõ ràng là Bắc Kinh không thể chờ đợi việc Brunei đóng vai người thừa lệnh như Cam Bốt đã làm vào năm ngoái. Vì vậy, Trung Quốc sẽ phải vận động để gây áp lực một cách khéo léo, chứ không thể nào thẳng tay đối với Brunei, vì những quốc gia khác, nhất là Việt Nam, Philippines sẽ có phản ứng. Nhất là khi những bài học rút ra từ nhiệm kỳ chủ tịch của Phnom Penh vẫn còn in đậm trong tâm trí mọi người.

Cũng phải ghi nhận rằng dù Brunei nhỏ bé, nhưng nước này lại nằm trong một thực thể rộng lớn hơn của khu vực văn hóa, ngôn ngữ Mã Lai, trải rộng từ Malaysia, Indonesia cho đến miền Nam Philippines. Bandar Seri Begawan có thể dựa vào hậu thuẫn của Jakarta chẳng hạn, nếu Trung Quốc gây sức ép quá đáng. Cần phải nhớ là quan hệ Trung Quốc - Indonesia chưa bao giờ đằm thắm hoàn toàn.

Tuy nhiên có một dấu hiệu đáng ngại là dường như chưa có một cuộc hội ý nào trong nội bộ ASEAN về cách thức tránh lập lại thất bại tháng 7/2012, cũng như phương thức giúp đỡ Brunei trong nhiệm vụ khó khăn của mình. Và cũng như thường khi với ASEAN, rất có thể khối nước này lại để lâm vào tình trạng « tùy cơ ứng biến ».

Theo RFI
Read more…

Trung Quốc sẽ tuần tra hàng ngày trên Biển Đông

09:18 |
Trung Quốc lại ngang ngược “khuấy” Biển Đông

Trung Quốc hôm qua (7/2) lại có hành động làm leo thang căng thẳng ở Biển Đông khi ngang nhiên tuyên bố sẽ tiến hành các cuộc tuần tra hàng ngày ở khu vực biển đang nóng bỏng bởi các cuộc tranh chấp này từ năm 2014. Mục đích của hoạt động tuần tra dày đặc kiểu đó được Trung Quốc tuyên bố là để “bảo vệ tốt hơn các quyền hợp pháp của ngư dân trong nước”.

Ông Wu Zhuang – người đứng đầu Cục Ngư nghiệp Biển Đông thuộc sự quản lý của Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, hôm qua đã nói rằng, sở dĩ cơ quan này tăng cường các cuộc tuần tra là do năng lực thực thi pháp luật của họ đang tăng lên.

"Mọi người sẽ nhìn thấy sự cải thiện rõ rệt trong năng lực thực thi pháp luật của cơ quan chúng tôi trong hai năm nữa bởi cục đang bước vào một giai đoạn phát triển nhanh chóng”, ông Wu tuyên bố.

Miêu tả năm 2012 là “một năm thách thức nhất”, ông Wu cho biết, Cục Ngư nghiệp Biển Đông đã áp dụng “một lập trường rất cứng rắn liên quan đến việc bảo vệ và tuần tra ngư nghiệp”.

Theo lời ông Wu, trong năm 2012, các tàu tuần tra của Cục Ngư nghiệp Biển Đông đã đạt kỷ lục về số ngày trên biển với 183 ngày. Mỗi thủy thủ trung bình ở trên biển 150 ngày và một số thậm chí còn làm nhiệm vụ trên biển đến 250 ngày. Tất cả các con số này đều là con số kỷ lục so với trước đây.

Trung Quốc đang có tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông với một loạt nước láng giềng bao gồm Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei và Vùng lãnh thổ Đài Loan. Trong thời gian vừa qua, người ta đã chứng kiến Trung Quốc liên tiếp có những cuộc đối đầu căng thẳng với các nước trong khu vực vì tranh chấp ở Biển Đông.

Biển Đông là khu vực giàu dầu mỏ, khí đốt và là nơi có nhiều tuyến đường hàng hải chiến lược quan trọng. Trung Quốc có tham vọng độc chiếm Biển Đông nên gần đây, nước này liên tục có những bước đi lấn tới nhằm thực hiện tham vọng của họ.

Việc Trung Quốc tuyên bố sẽ tuần tra định kỳ hàng ngày ở Biển Đông là bước đi mới nhất trong một loạt những động thái đầy khiêu khích của Trung Quốc gần đây. Diễn biến này chắc chắn sẽ khiến sóng gió Biển Đông nổi lên dữ dội hơn.

Kiệt Linh - (theo THX)
Read more…

Biển Đông 2013 : Nguy cơ đối đầu Việt-Trung

07:29 |
Trọng Nghĩa

Trong những ngày cuối năm 2012, đầu năm 2013, Bắc Kinh liên tiếp tung ra các thông tin bị đánh giá là mang tính chất hù dọa các láng giềng đang tranh chấp chủ quyền với họ trên Biển Đông. Mũi dùi của Trung Quốc, đặc biệt nhắm vào Việt Nam, với lời cảnh cáo công khai ngày 31/12/2012 vừa qua, tấn công vào bộ Luật Biển Việt Nam bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2013. Các động thái quyết đoán của Bắc Kinh đã làm dấy lên mối lo ngại là sự cố có thể xẩy ra giữa Việt Nam và Trung Quốc ngoài Biển Đông.

Biểu tình tại Hà Nội ngày 09/12/2012 với khẩu hiệu đòi
Trung Quốc tôn trọng Luật Biển Liên Hiệp Quốc.
REUTERS/Stringer

Theo ghi nhận của các nhà quan sát, Bắc Kinh trong những ngày qua, không còn che giấu việc họ đang tăng cường đáng kể sức mạnh của các lực lượng quân sự cũng như bán quân sự của họ tại vùng Biển Đông.

Gần đây nhất, truyền thông Trung Quốc đã nhất loạt phô trương các cuộc tập trận được mệnh danh là để nâng cao tư thế sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị quân đội đồn trú tại vùng Tam Sa được Bắc Kinh trao quyền cai quản vùng Biển Đông mà Trung Quốc đòi chủ quyền.

Trước đó, báo giới cũng tiết lộ thông tin về việc Hạm đội Nam Hải, đặc trách Biển Đông vừa được tăng cường bằng chiến hạm thuộc loại hùng mạnh nhất của Hải quân Trung Quốc hiện nay. Bên cạnh đó, đội tàu hải giám, chuyên tuần tra trên biển, cũng được tăng cường bằng hơn một chục tàu chiến cũ, trong đó có một khu trục hạm được đặc cách tuần tra tại Biển Đông.

Audio - Thời sự Việt Nam

Tất cả các chuyển động trên như nhằm thực hiện việc tỉnh Hải Nam, phụ trách Biển Đông, được Bắc Kinh trao cho quyền chận bắt tàu bè ngoại quốc bị đánh giá là xâm nhập trái phép lãnh hải của Trung Quốc, một quyết định được áp dụng từ ngày 01/01/2013, đúng vào hôm Luật Biển Việt Nam bắt đầu có hiệu lực.

Như để chuẩn bị cho việc thực thi Luật Biển mới của mình, ngay từ cuối năm ngoái, Việt Nam cho biết đã thành lập một lực lượng tuần tra để bảo vệ các khu vực đánh cá của Việt Nam trên Biển Đông và lực lượng này sẽ hoạt động kể từ 25/01/2013.

Quyết định của cả hai phía Việt Nam và Trung Quốc đã khiến cho nhiều quan sát viên lo ngại về nguy cơ sự cố nảy sinh giữa tàu Việt Nam và Trung Quốc trên vùng Biển Đông.

Theo Giáo sư Ngô Vĩnh Long thuộc Đại Học Maine (Hoa Kỳ), quyết định của Trung Quốc cho khám soát tàu bè ngoại quốc tiến vào Biển Đông rất nguy hiểm vì tiềm ẩn những đầu mối làm nảy sinh những sự cố, đặc biệt là với Việt Nam – cùng với Philippines - vốn bị Bắc Kinh coi là đối thủ chủ yếu.

Đối với Giáo sư Long, việc Việt Nam thành lập lực lượng tuần tra với nhiệm vụ bảo vệ vùng Biển Đông thuộc chủ quyền của mình chỉ có hiệu quả tương đối.

Trả lời phỏng vấn của RFI, Giáo sư Ngô Vĩnh Long trước hết phản bác lập luận chính thức của Trung Quốc, theo đó, quyết định khám soát tàu thuyền ngoại quốc tại Biển Đông là của riêng tỉnh Hải Nam. Theo giáo sư Long, đó chỉ là lập luận được đưa ra sau các phản ứng bất đồng tình của các nước khác.

Nhìn rộng ra khu vực, Giáo sư Ngô Vĩnh Long ghi nhận hai yếu tố rất thuận lợi cho Việt Nam trong việc đánh động dư luận quốc tế về các hành vi lấn lướt của Trung Quốc tại Biển Đông. Đó là việc Brunei, một nước cũng tranh chấp chủ quyền với Bắc Kinh ngoại Biển Đông lên làm chủ tịch ASEAN, và việc một nhà ngoại giao Việt Nam nhậm chức Tổng thư ký ASEAN.

Giáo sư Ngô Vĩnh Long
Đại học Maine (Hoa Kỳ)


Vấn đề đặt ra, theo giáo sư Long, là Việt Nam cần phải xác định rõ ràng hơn chính sách của mình liên quan đến Biển Đông, cho thế giới hiểu rõ chính sách này, mà nhất là phải cho người dân trong nước biết được đường lối của chính phủ.

NVL : Trước hết về phía Trung Quốc, luật đưa ra không phải là của riêng tỉnh Hải Nam, mà theo tôi biết, cũng là của chính phủ trung ương, nhưng mà họ nói một cách lấp liếm …

Khi tỉnh Hải Nam nói là bắt đầu từ ngày 01/01/2013, sẽ cho công an biên phòng được quyền khám soát tàu bè ngoại quốc gọi là lãnh hải của Trung Quốc ở Biển Đông, tức là gần như là toàn bộ Biển Đông, thì trước đó, tờ China Daily đã nói rằng các lực lượng tuần dương của Hải quân Trung Quốc sẽ dùng tuần dương hạm của họ chận tàu bè đi vào vùng biển của họ một cách bất hợp pháp. Thành ra vấn đề này có hai yếu tố : một là tỉnh Hải Nam, và hai là chính phủ trung ương …

Riêng Hải Nam cũng đã rất nguy hiểm rồi : Đây là nơi đặt toàn bộ Nam Hải Hạm đội, hạm đội mạnh nhất của Trung Quốc... Giám đốc Sở Ngoại vụ Hải Nam lại là Ngô Sĩ Tồn, cũng là Giám đốc của Trung tâm nghiên cứu về Biển Đông (Viện Nghiên cứu Nam Hải). Trung tâm này cũng là nơi làm chính sách cho trung ương. Thành ra họ lấp liếm như vậy nhưng vấn đề ở đây không phải chỉ là của riêng tỉnh Hải Nam, mà là của cả chính quyền trung ương Trung Quốc.

Từ khi Trung Quốc đưa ra đường 9 đoạn thành một yêu sách đòi hỏi cả 80% Biển Đông, thì đây là chính sách từ lâu của họ, chứ không phải chỉ bây giờ tỉnh Hải Nam mới ra luật như vậy. Trung Quốc ngày càng ép các nước khác, mà Việt Nam là đối tượng chính của họ.

Về phần Việt Nam quyết định tuần tra trên Biển Đông, tôi nghĩ rằng Việt Nam không đủ sức để làm việc này. Việt Nam chỉ nói để cho có nói.

Biển Đông là một khu vực rất lớn, thành ra nếu Việt Nam muốn tuần tra dọc lãnh hải của Việt Nam, thì phải dựa vào người dân trên toàn lãnh thổ và dọc theo vùng duyên hải, khi thuyền bè Trung Quốc vào lãnh hải của Việt Nam, họ phải báo cáo cho chính phủ, và khi ấy, chính phủ phải lập tức loan tin cho thế giới biết để cho sự cố khỏi xảy ra, vì nếu không, thì tôi nghĩ là trước sau gì thì cũng sẽ xảy ra sự cố, gây khó khăn cho an ninh khu vực.

RFI : Giáo sư vừa nhận xét là trong vụ tự cho mình quyền khám soát tàu bè ngoại quốc đi vào Biển Đông, Trung Quốc đã tìm cách lấp liếm. Xin Giáo sư giải thích rõ hơn.

NVL : Trước hết là khi Trung Quốc đưa ra lệnh này - chính phủ trung ương đưa ra trước, tỉnh Hải Nam đưa ra sau - họ muốn thử phản ứng của các nước chung quanh và của thế giới. Các nước chung quanh, Philippines, Singapore…, và các nước ngoài khu vực như Mỹ, đều muốn Trung Quốc phải làm rõ vấn đề này.

Thấy có phản ứng của các nước chung quanh, Trung Quốc mới giả vờ nói là chỉ nhắm vào tàu thuyền của ngư dân Việt Nam mà thôi, hay là lấp liếm rằng, chỉ đối với thuyền ngư dân Việt Nam, trong vòng 12 hải lý !

Nhưng Trung Quốc vẫn nói rằng bất cứ ai đi qua đường 9 đoạn, thì họ có quyền kiểm soát, chứ không phải là 12 hải lý, chung quanh Hải Nam mà thôi... Điều đó có nghĩa là Trung Quốc nói :

« Tất cả những gì bên trong đường 9 đoạn là của tôi, nhưng tôi cho phép các vị đi ngang. Đối với các nước lớn như Mỹ… đằng nào cũng có quan hệ tốt, tôi cho các anh đi qua, nhưng mà cái thằng Việt Nam nó láo lếu, thì chúng tôi phải dạy cho nó một bài học trước ».

RFI : Nhận định của giáo sư về khả năng xẩy ra xung đột tương đối bi quan ?

NVL : Vâng… Trước hết, Trung Quốc bảo là ngư dân hay thuyền bè Việt Nam không được đi vào cái vùng mà Trung Quốc gọi là vùng biển của Trung Quốc, nhưng vấn đề là cái vùng đó như thế nào ? Là 12 dặm chung quanh Hải Nam, hay chung quanh ba quần đảo mà Trung Quốc đòi hỏi là Hoàng Sa, Trung Sa, Trường Sa ?

Mà những cái vùng này lại là vùng biển của thế giới, nếu người Việt Nam đi qua đó mà bị Trung Quốc bắn hay bắt – như họ đã làm – thì Việt Nam trả lời như thế nào ? Mà nếu Việt Nam có lực lượng tuần tra, để bảo vệ các khu vực đánh cá của Việt Nam – như Việt Nam nói – thì khi các lực lượng này, vì bảo vệ ngư dân Việt Nam mà bị Trung Quốc bắn vào, thì chính phủ Việt Nam sẽ làm gì?

Việt Nam là một nước có lãnh hải dài nhất trong khu vực, nếu mà Việt Nam bị ép, thì các nước khác phản ứng như thế nào ?

RFI : Như vậy, Việt Nam có thể làm gì để tránh được các sự cố ?

NVL : Vấn đề không phải là chờ đến khi có sự cố rồi mới phản ứng. Tôi nghĩ rằng phải có trước một chính sách rõ ràng.

Trước hết, trong vùng lãnh hải của Việt Nam, nếu Trung Quốc tiến vào, thì Việt Nam phải hô hoán. Còn khi ngư dân Việt Nam đi qua các vùng đảo đang tranh chấp - chứ không phải là vùng lãnh hải của Trung Quốc - nếu bị Trung Quốc bắn hay bắt, thì Việt Nam phải tỏ thái độ rõ ràng. Phải nói trước, chứ không được chờ lúc sự cố xẩy ra rồi mới nói.

Còn đối với ngư dân Việt Nam, thì chính phủ phải yêu cầu không được đến gần lãnh hải của Trung Quốc – như là tỉnh Hải Nam chẳng hạn. Còn tại vùng đang tranh chấp – như Hoàng Sa – thì (chính phủ phải khuyên) thuyền đánh cá Việt Nam không nên vào vùng của những đảo có (lãnh hải) 12 dặm, còn những chỗ khác, những hòn đá chỉ có (lãnh hải) 500 thước thôi, thì ngư dân Việt Nam có thể tùy nghi đi ra đi vào. Nếu Trung Quốc dọa nạt hay bắt ngư dân Việt Nam, thì Việt Nam phải có thái độ và đưa vấn đề này ra cho thế giới biết.

Ví dụ như đảo Phú Lâm, có thể có 12 hải lý, hiện là vùng đang tranh chấp. Vùng nào đang tranh chấp thì phải nói cho dân biết là không nên đi vào vì nó còn đang tranh chấp, vì đi vào thì đúng là có sự tranh chấp.

Còn những vùng khác như là đảo nhỏ hay đá nhỏ, thì theo luật quốc tế thì chỉ được 500 thước thôi. Nhưng kể cả khi có tranh chấp, nếu lỡ mà sóng gió đẩy người ta vào vùng đó, thì Trung Quốc không thể viện có bắt hay bắn ngư dân Việt Nam được.

Nhưng mà phải nói cho dân chúng Việt Nam biết, để khỏi gây ra sự cố, trong khi đó thì chủ quyền phải tiếp tục đòi, tiếp tục đưa vấn đề ra cho thế giới biết là : « Chúng tôi đàng hoàng, chúng tôi thấy chỗ nào tranh chấp chúng tôi không đến, nhưng mà nếu đi vào lãnh hải của chúng tôi, chúng tôi sẽ hô hoán, nếu có sự cố thì vấn đề không phải là do phía Việt Nam mà là do phía Trung Quốc ».

RFI : Năm 2013, Brunei lên làm chủ tịch ASEAN, và một nhà ngoại giao Việt Nam làm Tổng thư ký ASEAN. Vai trò tổng thư ký có lợi cho Việt Nam trong việc nêu bật vấn đề Biển Đông hay không ?

NVL : Vai trò ASEAN rất quan trọng. Mặc dầu áp lực rất lớn của Trung Quốc, năm 2010, Việt Nam cũng có thể đưa vấn đề Biển Đông ra bàn cãi và lúc đó thế giới đã ủng hộ Việt Nam.

Tuy là một nước không có tranh cãi lớn với Trung Quốc, nhưng Brunei cũng bị đường lưỡi bò của Trung Quốc liếm gần hết vùng mà Brunei có yêu sách. Trong khi đó tranh cãi giữa Brunei và Việt Nam rất là nhỏ…

Thành ra giữa Việt Nam và Brunei, tôi nghĩ là có thể nói chuyện và dàn xếp một cách ổn thỏa vấn đề. Nếu làm được, Việt Nam sẽ được Brunei ủng hộ để đưa vấn đề Biển Đông ra bàn cãi… Ba nước rất quan trọng có thể đồng tình với Việt Nam là Brunei, Mã Lai và Phi Luật Tân.

Thật ra tranh chấp giữa Phi Luật Tân và Việt Nam lớn hơn rất nhiều. Tuy thế, theo tôi, nếu đàng hoàng thì giữa Việt Nam và Phi Luật Tân cũng có thể dàn xếp với nhau.

Đây (Việt Nam, Brunei, Malaysia và Philippines) là 4 nước có tranh chấp lớn nhất với Trung Quốc. Nếu 4 nước họp lại - đấy cũng là yêu cầu của Phi Luật Tân, nhưng chưa thành - tôi nghĩ là sẽ có cơ hội để 4 nước gặp nhau, thương lượng với nhau và đưa ra một chương trình, một chính sách để thế giới có thể ủng hộ được…

Về phần Việt Nam thì ông Lê Lương Minh là một nhà ngoại giao lỗi lạc, có rất nhiều kinh nghiệm. Làm Tổng thư ký ASEAN, ông có thể đưa ra những vấn đề đúng lúc để bàn cãi, để đưa vào chương trình nghị sự. Tôi nghĩ là nếu khôn khéo, trong vai trò này, Việt Nam có thể làm được rất nhiều chuyện.

Nhưng vấn đề lớn là…mặc dầu bộ Ngoại giao Việt Nam có rất nhiều người giỏi, tuy nhiên khác với Mỹ chẳng hạn - với một bộ Ngoại giao rất mạnh, đồng ý cái gì thì các bộ khác phải theo - ở Việt Nam, bộ Ngoại giao lại yếu, muốn làm cái gì, hứa cái gì và có thể không làm được bởi vì bị bộ này, bộ kia tranh giành ảnh hưởng. Thành ra, có vai trò tốt cũng khó có thể làm.

Vấn đề chính bây giờ không phải là vai trò của ông Lê Lương Minh, hay vai trò của Việt Nam Tổng thư ký ASEAN, mà là chính sách của Việt Nam như thế nào để có tác dụng.

RFI : Chính sách Việt Nam gần đây có dấu hiệu không rõ ràng ?

NVL : Vâng, có những tín hiệu không rõ ràng. Nếu trong chính phủ có rõ ràng đi nữa thì cách giải thích ra ngoài cho quần chúng không rõ ràng. Mà đây là vấn đề rất quan trọng.

Chính phủ (Việt Nam) không thể làm được một chính sách được các nước trên thế giới hay dân chúng ủng hộ, nếu không cho dân chúng, không cho thế giới thấy rõ ràng là chính sách của mình như thế nào. Nếu giấu chinh sách của mình đi thì khó tìm được ai ủng hộ mình.

Vấn đề ở đây là : Không những chính phủ phải có chính sách rõ ràng và thông báo cho thế giới biết, mà còn phải thông báo cho nhân dân trong nước biết. Nếu không, chẳng hạn khi nhân dân trong nước thấy Trung Quốc ép quá mà chính phủ không làm gì - mặc dầu có thể là chính phủ đã làm rất nhiều việc ở phía sau - thì sẽ có một sự khác biệt giữa dân chúng và chính phủ. Mà nếu có khác biệt giữa dân chúng và chính phủ, thì sức của chính phủ sẽ yếu đi.

Tôi nghĩ là chính phủ nên rõ ràng với trong nước và nước ngoài, để người ta có thể biết trước và ủng hộ chính sách của mình.

© RFI
Read more…

Hồ sơ Biển Đông: Quốc hội lưỡng viện Philippines ủng hộ kiện Trung Quốc

01:44 |
Trọng Nghĩa

Hôm qua, 24/01/2013, Thượng viện Philippines đã thông qua nghị quyết hậu thuẫn chính quyền trong quyết định kiện Bắc Kinh trước một tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc để thách thức các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc tại Biển Đông. Trước đó một hôm, Hạ viện Philippines cũng đã nhất trí thông qua một nghị quyết cùng nội dung.

Ngoại trưởng Philippines Albert Del Rosario thông báo với báo
giới về quyết định của Manila đưa tranh chấp với Trung Quốc ra
tòa án quốc tế, Manila, 22/01/2013.REUTERS/Department of
Foreign Affairs

Các đại biểu dân cử Philippines như vậy đã ủng hộ mạnh mẽ lập trường của chính quyền vào lúc chính phủ tiếp tục tranh thủ thêm hậu thuẫn của các tầng lớp dân chúng.

Theo báo chí Philippines, hầu như tất cả các đảng phái chính trị ở Philippines, từ đảng cầm quyền cho đến các đảng đối lập, tất cả đều tán đồng quyết định kiện Trung Quốc của chính phủ.

Nghị quyết 3004 của Hạ viện đã kêu gọi toàn thể dân chúng Philippines đoàn kết để bảo vệ chủ quyền đất nước tại vùng Biển Đông (mà nước này đặt tên là biển Tây Philippines). Văn kiện nêu rõ : “Với đường chín đoạn, Trung Quốc không chỉ vi phạm chủ quyền của Philippines mà cả của các nước ven biển khác khi đòi hỏi chủ quyền trên hầu như toàn bộ Biển Đông. Trung Quốc cũng vi phạm chủ quyền của Philippines thông qua những hành động hung hăng liên tục nhằm áp đặt đường chín đoạn…”

Hôm thứ Ba, 22/01, Ngoại trưởng Albert del Rosario đã công khai loan báo quyết định của chính phủ Philippines kiện Trung Quốc ra trước Tòa án Trọng tài trong khuôn khổ Công ước Liên Hiệp Quốc năm 1982 về Luật Biển (UNCLOS). Trong một thông báo, bộ Ngoại giao Philippines cũng đồng thời động viên dân chúng ủng hộ quyết định của chính phủ.

Tiếp tục chủ trương đó, vào hôm nay, chính quyền Manila chính thức kêu gọi giới hoạt động trong lãnh vực hàng hải tại Philippines ủng hộ đơn kiện Trung Quốc. Trong một thông cáo, bộ Ngoại giao Philippines xác nhận là đã giải thịch rõ ràng quyết định của mình tại một sinh hoạt mới đây của toàn bộ các tác nhân liên quan đến ngành hàng hải nước này, từ các tập đoàn vận tải, đóng tàu, đánh cá, cho đến các cơ quan hàng hải của chính phủ, như lực lượng Tuần duyên hay Hải quân…

Các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam đã có phản ứng thận trọng về quyết định của Manila kiện Bắc Kinh ra trước quốc tế về vấn đề Biển Đông.

Hôm qua, 24/01, trả lời câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Việt Nam trước việc Philippines kiện Trung Quốc, ông Nguyễn Duy Chiến, phó chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia thuộc bộ Ngoại giao chỉ nhắc lại : “Lập trường nhất quán của Việt Nam là các vấn đề liên quan đến Biển Đông cần phải được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS”.

Theo bộ Ngoại giao Việt Nam, “các quốc gia hoàn toàn có quyền lựa chọn các biện pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp phù hợp với Hiến chương Liên Hợp Quốc, luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982”.

Ngoại trưởng Thái Lan cũng xác định rằng việc kiện Trung Quốc trên vấn đề Biển Đông là quyền hợp pháp của Philippines.

Còn Trung Quốc thì không hài lòng chút nào. Tờ Nhân dân Nhật báo hôm nay lại có bình luận cho rằng “nỗ lực của Philippines không đi đến đâu”. Trước đó, cơ quan ngôn luận chính thức của đảng Cống sản Trung Quốc cũng đã phê phán quyết định quốc tế hóa hồ sơ Biển Đông của Manila, khi cho rằng Philippines “đang đi lạc hướng”.

Theo RFI
Read more…

Ai để Philippines chiếm giữ một số đảo ở Trường Sa?

01:49 |
Thiềm Thừ

Nhiều người Việt ở nước ngoài hay nói bọn cộng sản yếu hèn, dâng nhiều đảo ở Trường Sa cho ngoại bang. Họ nói vậy, có lẽ vì họ ghét cộng sản, vì họ không có thông tin, hoặc vì cả hai. Nhưng mới rồi có nhà báo trong nước ra vẻ hiểu biết, nói Việt Nam Cộng hòa đã giữ nhiều đảo ở Trường Sa, chả để mất đảo nào, nay mình dở quá, để mất vào tay Trung Quốc bao nhiêu đảo.

Nói với bạn ý, Trung Quốc đã chiếm 7 đảo ở Trường Sa, nhưng chưa hề chiếm được đảo nào bộ đội ta đã đóng giữ. Gạc Ma bị Trung Quốc chiếm ngày 14-3-1988, khi công binh ta mới lên cắm cờ trên đảo vài giờ.

Nhân tiện cũng nói luôn, lâu nay mọi người thường chỉ nói đến việc Trường Sa bị Trung Quốc chiếm. Nhưng sự thực, Philippines còn chiếm đóng nhiều đảo ở Trường Sa hơn cả Trung Quốc. Có một bác ở hải ngoại nhắc đến việc nhiều đảo ở Trường Sa bị Phi chiếm, đổ tội cho “bọn cầm quyền cộng sản” chả biết giữ mấy đảo đó. Bác này nói đại ý, trên mấy đảo Phi đang chiếm giữ có cả bia chủ quyền lập từ thời Việt Nam Cộng hòa, chứng tỏ cộng sản đã làm mất về tay Phi các đảo, trước kia Việt Nam Cộng hòa giữ. Lập luận đến hay!

Một số đảo ở Trường Sa bị Philippines chiếm giữ từ bao giờ, như thế nào?

Năm 1956, sau khi tiếp thu từ Pháp quyền kiểm soát quần đảo Trường Sa, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tổ chức thị sát, dựng bia chủ quyền ở một số đảo.

Năm 1963, Hải quân Việt Nam Cộng hòa đưa ba tàu là HQ-404 Hương Giang, HQ-01 Chi Lăng và HQ-09 Kì Hoà ra xây dựng lại bia chủ quyền Việt Nam tại một số đảo thuộc Trường Sa. Sách trắng năm 1975 về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa nêu rõ ngày xây dựng lại bia chủ quyền ở 6 đảo: ngày 19-5-1963, ở đảo Trường Sa; ngày 20-5-1963, ở đảo An Bang; ngày 22-5-1963, ở đảo Thị Tứ và Loại Ta; ngày 24-5-1963 ở đảo Song Tử Đông và đảo Song Tử Tây.

Bia chủ quyền Việt Nam ở đảo Song Tử Đông

Nhưng năm 1970. Philippines đã tổ chức chiếm giữ đảo Song Tử Đông, đảo Thị Tứ, đảo Loại Ta và 4 đảo nữa. Domingo Tucay, năm 1970 là một trung úy trẻ tham gia cuộc hành quân đó kể lại, họ mang theo mật lệnh, được dặn đến tọa độ nhất định mới được mở ra. Có 7 đảo, bãi hoàn toàn hoang vắng, họ chiếm đóng dễ dàng. Chỉ khi tới đảo Song Tử Tây, họ thấy quân Việt Nam Cộng hòa đóng. “Chúng tôi báo về sở chỉ huy, được chỉ thị cứ để mặc họ”. Tucay nói.

Trong những đảo Philipines chiếm dịp đó có 6 đảo nổi, Thị Tứ là đảo lớn thứ nhì, Bến Lạc (Đảo Dừa) là đảo lớn thứ ba, Song Tử Đông là đảo lớn thứ năm ở quần đảo Trường Sa.

Theo như bài báo đăng lời Tucay kể chuyện, nhiều tháng sau khi Philippines chiếm đóng 7 đảo ở quần đảo Trường Sa, các nước khác mới biết.



Tài liệu:


Read more…

Tranh chấp Biển Đông : Philippines điệu Trung Quốc ra trước tòa án Liên Hiệp Quốc

02:54 |
Trọng Nghĩa

Trong một cuộc họp báo vào hôm nay, 22/01/2013, Ngoại trưởng Philippines Albert del Rosario cho biết là nước ông đã khiếu nại trước một tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc về các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc tại vùng Biển Đông. Các yêu sách của Bắc Kinh đã phạm vào các vùng mà Manila tuyên bố chủ quyền. Đại sứ Trung Quốc tại Philippines đã được thông báo về sự kiện này.

Ngoại trưởng Philippines Albert Del Rosario thông báo với báo
giới quyết định của Manila đưa tranh chấp với Trung Quốc ra
tòa án quốc tế, Manila, 22/01/2013. REUTERS/Department of
Foreign Affairs


Giải thích về quyết định của Philippines, Ngoại trưởng Albert del Rosario xác định : « Philippines đã sử dụng gần như cạn kiệt mọi con đường chính trị và ngoại giao nhằm giải quyết một cách hòa bình các tranh chấp biển đảo với Trung Quốc... Chúng tôi hy vọng rằng các thủ tục trọng tài sẽ đạt tới một giải pháp lâu bền ».

Ông del Rosario cho biết là Manila đã thông báo cho đại sứ Trung Quốc tại Philippines về việc chính quyền Manila đã kiện Trung Quốc trước tòa án trọng tài trong khuôn khổ Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà cả hai nước đều đã phê chuẩn.

Theo Ngoại trưởng Philippines, đơn khiếu nại do nước ông đệ trình trước tòa án Liên Hiệp Quốc đã xác định tính chất hoàn toàn bất hợp pháp của cái gọi là « đường chín đoạn » của Bắc Kinh, phác họa chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc trên Biển Đông, gộp luôn các vùng biển và hải đảo sát cạnh các nước láng giềng.

Văn kiện này đồng thời yêu cầu Trung Quốc "chấm dứt các hoạt động phi pháp, vi phạm quyền chủ quyền và quyền tài phán của Philippines trong khuôn khổ công ước UNCLOS 1982 ».

Xin nhắc lại là, Trung Quốc hiện đòi hỏi chủ quyền trên hầu như toàn bộ vùng Biển Đông, nhân danh những cái gọi là « thực tế và bằng chứng lịch sử », bất chấp tuyên bố chủ quyền trong cùng khu vực của các láng giềng như Philippines cũng như Việt Nam, Brunei, Malaysia, và Đài Loan.

Để xác lập chủ quyền của mình, Trung Quốc không ngần ngại dùng võ lực đánh chiếm các hòn đảo do nước khác kiểm soát. Vào năm 1974, họ thôn tính toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ tay Việt Nam, đến năm 1988, họ đánh chiếm thêm một số đảo khác cũng của Việt Nam tại vùng Trường Sa.

Philippines cũng là nạn nhân của chính sách đó. Vào giữa thập niên 1990, Trung Quốc đã thành công trong việc lần lần chiếm hữu bãi Vành Khăn (Mischief Reef) ngoài Trường Sa mà Philippines kiểm soát. Sau nhiều thất bại liên tiếp trong việc vận động ngoại giao để đòi lại, Manila đã đành phải chấp nhận tình trạng đã rồi.

Kể từ tháng Tư năm 2012, Bắc Kinh như lại áp dụng chính sách gặm nhắm đó đối với bãi Scarborough ở khu vực Macclefiels Bank ngoài Biển Đông – tên Philippines là Panatag, nhưng tên Trung Quốc là Hoàng Nham. Lần này, Philippines có dấu hiệu phản ứng quyết liệt hơn, không ngừng tố cáo, trên các diễn đàn quốc tế và khu vực, hành vi bành trướng của Bắc Kinh.

Trong thời gian gần đây, Manila đã đe dọa là sẽ điệu Bắc Kinh ra trước Tòa án Quốc tế về các hành động lấn lướt chủ quyền tại vùng Biển Đông. Với quyết định được loan báo hôm nay, Philippines cho thấy là họ không chỉ nói suông.

Theo lời Ngoại trưởng Albert del Rosario vào hôm nay, sở dĩ Philippines phải viện đến biện pháp này, đó là vì thái độ thiếu hợp tác của Trung Quốc : « Trong nhiều dịp kể từ năm 1995, Philippines đã thảo luận với Trung Quốc để giải quyết các tranh chấp (biển đảo) một cách hòa bình, (nhưng) cho đến ngày nay, triển vọng đạt được một giải pháp vẫn xa vời »

Theo RFI Vietnamese
Read more…

Vận nước nhìn từ Trường Sa

07:20 |
Sơn Văn
Tháng 1 năm 2013, Luật biển của nước nhà có hiệu lực thi hành. Thì cũng đúng dịp đầu năm 2013, lại có hàng chục thuyền ngư dân nước mình vào tránh bão ở Hoàng Sa của nước mình bị Trung Cộng xua đuổi khỏi nơi họ xâm chiếm trái phép đó từ năm 1974.

Trong bối cảnh như thế, liệu đầu năm 2013 này nên túm tụm họp mặt gượng gạo kỷ niệm 63 năm thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung Cộng, hay là nên nghiền ngẫm như tác giả Sơn Văn với bài viết Bauxite Việt Nam trân trọng giới thiệu tới bạn đọc ở đây: Vận nước nhìn từ Trường Sa.

Một bài viết chính luận cần lý giải nhiều nhưng vẫn hết sức súc tích, một bài viết với lập luận chặt chẽ mà không khô khan, vẫn toát lên tấm tình nồng nàn, hệt như người xưa, nửa đêm thức giấc nước mắt đầm đìa, ruột đau như cắt… để nghĩ đến vận nước.

Vận nước! Vận nước!

Nhìn cho rõ cái thời điểm nguy khốn của vận nước, đó là trí tuệ và tấm lòng mỗi người Việt Nam lúc này. Tác giả Sơn Văn trình bày tường tận cùng bạn đọc xem xét chi li thế tiến thoái để giữ được tổ quốc bình yên khi quốc gia hưng vong, khi vận nước không phép người Việt Nam yêu nước nào còn được ngồi yên.

Trường Sa – Hoàng Sa phải thành kinh nhật tụng của chúng ta. Đó là việc lâu dài. Còn việc trước mắt là: hãy nhìn cho rõ ta phải làm gì cho Trường Sa. Vì vận nước đang bắt ta phải nghĩ và phải làm ngay vì Trường Sa.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.


Bauxite Việt Nam

Đất nước nào, dân tộc nào cũng có những giai đoạn sự kiện bản lề – hoặc tự đánh mất mình, hoặc thăng hoa, cất cánh – mà ta gọi là vận nước. Đối với đất nước, dân tộc Việt Nam ở thời điểm hiện tại, giữ hay không giữ được Trường Sa trước xâm lược đã được Trung Quốc lên nòng, ấy là vận nước!

Đất nước nhìn từ Trường Sa...Nguồn ảnh: OntheNet

“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, tôi – một người sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống yêu nước, cũng giống trường hợp TS. Cù Huy Hà Vũ, GS. Nguyễn Huệ Chi và nhiều trí thức nổi tiếng hiện nay trên khắp nước ta – càng không thể không lên tiếng trước vận nước ấy!

Trước hết, cần khẳng định một lần nữa âm mưu của Trung Quốc đánh chiếm nốt toàn bộ Trường Sa của Việt Nam. Thực vậy, Trung Quốc không chỉ tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa cũng như đối với 80% Biển Đông bất chấp thực tế lịch sử và luật pháp quốc tế về biển mà bằng một loạt hành vi khác nhau cụ thể hóa tuyên bố chủ quyền phi pháp đó: từ việc dùng vũ lực chiếm toàn bộ Hoàng Sa vào năm 1974 và một phần Trường Sa vào năm 1988 đến việc thành lập thành phố Tam Sa gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa, mời thầu thăm dò dầu khí, cấm ngư dân Việt Nam đánh bắt cá rồi tấn công tàu, thuyền và bắt giữ ngư dân Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam… Việc Trung Quốc mới đây đưa vào sử dụng tàu sân bay Liêu Ninh và các tàu đổ bộ có sức chứa khoảng 800 quân và 20 xe tăng, xe bọc thép mỗi tàu trong biên chế Hạm đội Nam Hải là những bằng chứng rõ nhất về âm mưu xâm lược Trường Sa ấy của Trung Quốc.

Trước một quyết tâm xâm lược Trường Sa như thế của Trung Quốc hiển nhiên Việt Nam phải tự vệ trừ phi đầu hàng! Vậy một câu hỏi được đặt ra: thực chất của các cuộc đàm phán giữa Việt Nam và Trung Quốc mà sản phẩm là “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” ký tháng 10/2011 là gì?

Như chúng ta đều biết, đàm phán chỉ có thể có giá trị khi tương quan lực lượng quân sự của các bên liên quan là tương đối cân bằng, không bên nào có thể giành thắng lợi tuyệt đối trong đối đầu trực tiếp. Thực tế cho thấy hiện nay Việt Nam kém Trung Quốc rất xa về năng lực quốc phòng nói chung, hải quân nói riêng, cả về số lượng lẫn chất lượng, tức đàm phán đối với Trung Quốc chỉ là một cách để thực hiện mục tiêu quân sự. Thực vậy, Điều 5 Thỏa thuận quy định: “giải quyết vấn đề trên biển theo đúng tinh thần “tuần tự, tiệm tiến, dễ trước, khó sau”. Với quy định này, Trung Quốc tạo cho Việt Nam ảo tưởng rằng Trung Quốc sẽ không đụng đến Trường Sa trong ngắn hạn vì Trường Sa cũng như Hoàng Sa là vấn đề khó, hai bên phải bàn bạc dài lâu để giải quyết dẫn đến Việt Nam không có phương án phòng vệ tích cực như liên minh quân sự với nước thứ ba, điều này hẳn nhiên tạo điều kiện cho Trung Quốc tập kích thành công Trường Sa. Nói cách khác, đàm phán nói chung, “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” nói riêng đối với Trung Quốc chỉ là kế “giương Đông, kích Tây” hay “nói một đằng, làm một nẻo” nhằm làm Việt Nam chủ quan để Trung Quốc dễ dàng đánh chiếm Trường Sa hoặc chỉ là chiến thuật “câu giờ” cho đến khi nước này chuẩn bị đủ các phương tiện chiến tranh bảo đảm thắng lợi trong cuộc chiến ấy.

Về phía mình, Chính phủ Việt Nam hẳn hy vọng Thỏa thuận này sẽ bảo đảm “statu quo” hay “nguyên trạng” ở Biển Đông, tức Việt Nam không dùng vũ lực để thu hồi Hoàng Sa thì Trung Quốc cũng không dùng vũ lực để chiếm lấy Trường Sa, theo kiểu “Ta không đụng đến mi thì mi cũng đừng đụng đến ta”, tóm lại là Chính phủ không phải lo chiến đấu với “giặc ngoài” để tập trung nguồn lực quốc phòng cho chiến đấu với “thù trong” mà ở đây là “Diễn biến hòa bình” nhằm bảo vệ chế độ Xã hội chủ nghĩa! Tuy nhiên hy vọng này của Chính phủ Việt Nam sẽ chẳng bao giờ thành hiện thực vì, như trên đã phân tích, đàm phán, thỏa thuận đối với Trung Quốc chỉ là bước đi chiến thuật trong chiến lược đánh chiếm Trường Sa, thâu tóm Biển Đông!

Do đó, để Trường Sa không mất vào tay Trung Quốc trong một cuộc xâm lược đã được nước bành trướng này “lập trình”, Việt Nam ngày nay chỉ có thể bắt chước cha ông của thủa Diên Hồng mà hô “đánh!”. Nói cách khác, tự vệ là lựa chọn duy nhất đúng để Việt Nam bảo toàn lãnh thổ của mình trên Biển Đông.

Đi vào cụ thể, Việt Nam có hai phương thức tự vệ. Một là: “Tự lực cánh sinh”, dựa vào năng lực quốc phòng của bản thân. Hai là, liên minh quân sự với nước ngoài. Thế nhưng, như trên đã đề cập, sức mạnh quân sự của Việt Nam thua rất xa sức mạnh quân sự của Trung Quốc, nhất là trên biển. Chỉ riêng tàu sân bay Liêu Ninh cũng đã đủ giúp Trung Quốc chiếm thế thượng phong trong hải chiến với Việt Nam. Đó là chưa nói để hỗ trợ cho việc đánh chiếm Trường Sa, Trung Quốc hoàn toàn có thể tiến hành mặt trận thứ hai trên đất liền, dọc toàn tuyến biên giới với Việt Nam, như Trung Quốc đã làm vào đầu năm 1979, nhằm phân tán hơn nữa nguồn lực quốc phòng của Việt Nam dành cho phòng thủ Trường Sa. Điều này có nghĩa nếu Việt Nam chỉ dựa vào năng lực quốc phòng của bản thân thì không chỉ mất nốt Trường Sa vào tay Trung Quốc mà ngay nền độc lập của Việt Nam cũng sẽ như “trứng để đầu đẳng”!

Từ đó đi đến kết luận rằng cách duy nhất để bảo vệ Trường Sa tiến tới thu hồi Hoàng Sa cũng như bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông và trên đất liền là liên minh quân sự với nước ngoài. Vả lại, lịch sử đã chứng minh rằng sở dĩ Việt Nam đã giành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh ở thế kỷ XX là do đã liên mình quân sự với các cường quốc quân sự ngoài lòng yêu nước nồng nàn của người Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm. Thực vậy, Việt Nam đánh thắng Thực dân Pháp tái xâm lược, đặc biệt tại quyết chiến điểm Điện Biên Phủ vào năm 1954 là do có đại bác, pháo cao xạ và các phương tiện chiến tranh khác do hai nước “anh em xã hội chủ nghĩa” là Liên Xô và Trung Quốc viện trợ; Việt Nam đánh thắng can thiệp Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, đặc biệt trong cuộc tập kích chiến lược bằng B52 của Mỹ vào Hà Nội kéo dài 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972 là do có viện trợ quân sự hùng hậu và hiện đại, trong đó có hàng nghìn quả tên lửa đất đối không, vẫn của Liên Xô và Trung Quốc; Việt Nam đánh thắng Trung Quốc trong chiến tranh biên giới vào đầu năm 1979 cũng là do có viện trợ quân sự hùng hậu và cấp tốc của Liên Xô sau khi Việt Nam ký với cường quốc quân sự này một hiệp ước liên minh quân sự vào năm trước đó, 1978.

Vấn đề còn lại là nước nào có thể là chỗ dựa và đồng hành với Việt Nam trong trận chiến chống xâm lược từ phía Trung Quốc? Hỏi tức trả lời, đó chỉ có thể là Mỹ, như Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ đã chỉ ra cách đây 3 năm, 2010, trong các trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ - VOA (“Tham vọng của Trung Quốc trên Biển Đông là quá rõ ràng”, “Đồng hành quân sự với Hoa Kỳ là mệnh lệnh của thời đại”).

Trước khi đi vào phân tích kịch bản liên minh quân sự với Mỹ, tôi thấy cần thiết phải loại bỏ ngay ảo tưởng dựa vào Nga để chống Trung Quốc xâm lược. Thực vậy, Nga không còn là Liên Xô để có thể giúp Việt Nam chống Trung Quốc như cách đây 34 năm. Không những thế, hiện nay Nga rất cần Trung Quốc không chỉ với tư cách là khách hàng hàng đầu mà còn với tư cách là đồng minh quân sự tiềm tàng của Nga để chống lại sức ép quân sự - chính trị của NATO (khối quân sự Bắc Đại Tây Dương) nói riêng, của phương Tây nói chung, đồng nghĩa Nga sẽ không bao giờ đứng về phía Việt Nam nếu xung đột quân sự giữa Việt Nam và Trung Quốc nổ ra. Việc Nga đã bán được cho Trung Quốc 8 tỉ USD hàng hóa chỉ trong chuyến đi thăm Trung Quốc của Tổng thống Nga Putin vào tháng 10/2011 cũng như việc Hạm đội Thái Bình Dương của Nga tập trận chung với hải quân Trung Quốc tại Hoàng Hải vào tháng 4/2012 hẳn là những bằng chứng đầy sức thuyết phục cho nhận định trên. Bản thân việc Trung Quốc đón Tổng thống Nga Putin và Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng sang thăm Trung Quốc vào cùng một ngày, 11/10/2011, cũng đã là lời nhắn rằng Việt Nam đừng trông mong vào Nga để chống Trung Quốc! Để nói, điều duy nhất mà Việt Nam có thể khai thác từ Nga để phòng vệ chống lại Trung Quốc là mua vũ khí, đặc biệt các phương tiện chiến tranh trên biển, từ nước cựu xã hội chủ nghĩa này theo kiểu “tiền trao, cháo múc”. Thế nhưng tài chính của Việt Nam là rất hạn hẹp, đó là chưa nói đến việc Nga bán cho Trung Quốc vũ khí cùng chủng loại bán cho Việt Nam với số lượng nhiều lần hơn, tàu ngầm là một ví dụ. Tóm lại, chạy đua vũ trang với Trung Quốc là điều không tưởng đối với Việt Nam, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc đã trở thành cường quốc kinh tế số 2 thế giới, chỉ sau Mỹ!

Cũng như vậy, Việt Nam không thể trông mong vào ASEAN vì ASEAN không phải là một tổ chức quân sự đã đành, mà cũng không có thiết chế quân sự, chí ít cho đến lúc này. Đó là chưa nói mới chỉ trên bình diện đối ngoại, các nước ASEAN đã không có được sự thống nhất trong việc phản đối Trung Quốc gây hấn trên Biển Đông dẫn đến hội nghị ASEAN lần thứ 45 tổ chức tại Campuchia đã không ra được thông cáo chung, sự kiện chưa từng có trong lịch sử tổ chức này.

Trở lại kịch bản liên minh quân sự với Mỹ, nước này có đủ các điều kiện cần thiết để giúp Việt Nam bảo vệ Trường Sa nói riêng, chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông và trên đất liền nói chung, trong trường hợp Trung Quốc xâm lược. Các điều kiện ấy như sau:

Mỹ là siêu cường quân sự duy nhất trên thế giới, là nước phương Tây duy nhất có Hạm đội ở Thái Bình Dương. Ngoài ra, với tư cách là nhân tố chủ chốt của NATO, Mỹ hoàn toàn có thể vận dụng sức mạnh của khối quân sự lớn nhất thế giới này để duy trì hòa bình, ổn định ở Tây Thái Bình Dương trong đó có Biển Đông. Nói cách khác, với Mỹ, NATO hoàn toàn có thể “Viễn Đông hóa”!

Với chiến lược quân sự mới đề ra cho thế kỷ XXI, lấy Châu Á - Thái Bình Dương nói chung, Đông Á nói riêng, làm trọng tâm mà Tổng thống Mỹ Obama đưa ra đầu năm 2012 – chiến lược quân sự mà tôi đặt tên là “Obamasia” – Mỹ là nước duy nhất chủ động ngăn chặn bành trướng quân sự của Trung Quốc trong khu vực. Việc Thượng viện Mỹ mới đây ra nghị quyết về Biển Đông theo đó Mỹ chống lại mọi hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực để giải quyết tranh chấp trên biển và chủ trương tự do hàng hải là bằng chứng nặng ký nữa về quyết tâm quân sự mới của Mỹ ở thế kỷ XXI.

Trung Quốc phụ thuộc nặng nề, nếu không muốn là tự trói mình vào Mỹ khi đã mua hơn 1000 tỉ USD trái phiếu Chính phủ Mỹ, đồng nghĩa Trung Quốc sẽ không mạo hiểm mà lựa chọn đối đầu quân sự với Mỹ.

Ngoài ra, tôi ủng hộ Việt Nam liên minh quân sự với Mỹ còn nhằm mục đích kinh tế, bởi liên minh quân sự giữa hai nước một khi được thiết lập sẽ là cơ sở để Mỹ hỗ trợ cho Việt Nam những khoản tài chính cũng như công nghệ rất quan trọng tạo điều kiện cho Việt Nam có được những bứt phá thần kỳ về kinh tế. Thực tế cho thấy, nhờ viện trợ kinh tế hùng hậu của Mỹ mà Tây Âu, Nhật, Hàn Quốc kiệt quệ sau chiến tranh đều trở thành các trung tâm kinh tế thế giới hay khu vực. Thực ra, chỉ riêng việc Mỹ bảo trợ cho phòng thủ quốc gia của các đồng minh của Mỹ cũng đã đủ để các nước này chuyển tài lực đáng kể lẽ ra phải chi cho quốc phòng sang phát triển kinh tế. Tóm lại, liên minh quân sự với Mỹ là “nhất cử lưỡng tiện”.

Thế nhưng “ăn có mời, làm có khiến”, nước Mỹ không thể mang tài lực, sức mạnh quân sự của mình để bảo vệ lãnh thổ của Việt Nam, đặc biệt trên Biển Đông mà ở đây là Hoàng Sa và Trường Sa, nếu Việt Nam không chính thức yêu cầu Mỹ, làm như vậy thông qua một hiệp ước liên minh quân sự với nước này. Dĩ nhiên trong quan hệ quốc tế không ai cho không ai, điều này có nghĩa Việt Nam muốn Mỹ bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông nói riêng, lãnh thổ của Việt Nam nói chung thì Việt Nam không đáp ứng đòi hỏi của Mỹ là Dân chủ hóa chế độ chính trị bằng cách bảo đảm thực sự tự do ngôn luận và các nhân quyền khác, trả tự do cho những người bất đồng chính kiến bị cầm tù và tiến tới thực hiện bầu cử tự do với sự tham gia của nhiều đảng phái, tương tự những gì đã và đang diễn ra tại một nước Đông Nam Á khác vốn có cùng chế độ độc tài là Myanmar. Tôi cho rằng đòi hỏi cải cách thể chế theo hướng dân chủ, tự do này của Mỹ là hợp lý bởi chính Hồ Chí Minh đã từng coi Mỹ là hình mẫu thể chế cho Việt Nam. Thực vậy, Hồ Chí Minh không chỉ lấy Tuyên ngôn độc lập của Mỹ làm đề dẫn cho Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam mà còn lấy tên của hai chính đảng lớn nhất của Mỹ luân phiên cầm quyền là Dân Chủ và Cộng hòa làm quốc hiệu cho Việt Nam độc lập: Việt Nam dân chủ cộng hòa!

Đáng tiếc là nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã không vượt qua được chính mình để quốc gia không những không bị xâm hại mà còn hưởng lợi khi hơn một lần thể hiện quan điểm “không có chuyện Việt Nam thay đổi chế độ chính trị, từ bỏ chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để đổi lấy sự giúp đỡ của Mỹ nhằm bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ của Việt Nam ở Biển Đông”. Mới đây Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng khẳng định lại quan điểm này bằng tuyên bố Việt Nam sẽ không liên minh quân sự với các nước khác để chống lại nước thứ ba trong trường hợp nước này dùng vũ lực xâm phạm chủ quyền và lãnh thổ của Việt Nam!

Mặc dầu vậy, tôi vẫn tin rằng Trường Sa sẽ không thể mất cũng như Hoàng Sa sẽ không thể vĩnh viễn mất vào tay bành trướng phương Bắc bởi chính nhân dân Việt Nam chứ không phải ai khác sẽ đứng lên nắm lấy vận nước, nắm lấy vận mệnh của chính mình./.

Bauxite Việt Nam
Read more…

Bản đồ lãnh thổ mới của Trung Cộng

11:57 |
J. Michael Cole
DCVOnline lược dịch

Cuối tháng Giêng 2013 Cục Trắc địa, Bản đồ và Thông tin địa lý nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Hoa Cộng sản, TC) sẽ công bố bản đồ toàn bộ lãnh thổ mới. Bản đồ mới này sẽ đưa con số vùng tranh chấp ghi là lãnh thổ của TC tăng từ 30 lên 130 kể cả đao Điếu Ngư / Senkaku cũng được tuyên bố thuộc lãnh thổ của Đài Loan (Cộng hòa Trung Hoa, Taiwan) và Nhật bản.

Bản đồ của PRC sẽ phát hành vào tháng Hai, 2013.
Nguồn ảnh: taipeitimes.com


Những ấn bản bản đồ lãnh thổ quốc gia trước đây của TC trình bày theo khổ ngang chỉ để những quần đảo lớn trong vòng tranh chấp ở biển phía nam Trung Hoa trong một khung riêng đính kèm. Hãng tin Xinhua cho biết độ phân giải của bản đồ thấp không rõ đủ chi tiết.

Đàu tháng Hai Sinomaps Press, thay mặt cho giới chức TC sec phát hành bản đồ trình bày theo khổ dọc. Đây sẽ là lần đầu tiên TC công bố toàn bộ lãnh thổ cùng đô phân giả với lục địa Trung Hoa.

Từ Căn Tài (Xu Gencai), Chủ nhiệm của Sinomaps Press cho biết, “Bản đồ mới này sẽ rất quan trọng trong việc tăng cường nhận thức của người dân Trung Hoa về lãnh thổ quốc gia, bảo vệ quyền lợi trên biển và thể hiện lập trường ngoại giao chính trị của Trung Hoa.”

Bản đồ mới theo chiều dọc này sẽ ghi rõ 130 điểm đang trong vòng tranh chấp gồm cả Đài Loan, đảo nhỏ và các rạn san hô ở quần đảo Trường Sa (Nansha Islands, 南沙群岛), quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa quần đảo, 西沙群岛), Pratas (Dongshan Islands, 东 沙 群岛), Bãi Macclesfield (Trung Sa quần đảo, 中 沙 群岛) và Bãi đá ngầm Scarborough (Hoàng Nham Island (黄岩 岛). Đó là những vùng tranh chấp giữa Đài Loan, Trung Quốc, Philippines, Việt Nam, Brunei và Malaysia. Trong bản đồ đó cũng có cả các Diaoyutais, trong biển phía đông Trung Hoa.

Một cái đầu tiên khác nữa là bản đồ mới này vẽ một phần mũi phía bắc của đảo Đài Loan và chi tiết của 8 đảo nhỏ kể cả quần đảo Diaoyutais, mà Nhật bản gọi là quần đảo Senkaku.

Căng thẳng gia tăng trong khu vực cuối tuần trước, khi Trung Quốc và Nhật Bản đưa máy bay chiến đấu lên không sau khi TC ba lần xâm phạm không phận quốc phòng của Nhât Bản gần các hòn đảo nhỏ.

Lô Trường Thủy (Lu Chang-shui, 盧長水), người đứng đầu Hội đồng về Lục địa của Cục Thông tin Liên lạc, nói tấm bản đồ mới này khác với hình bản đồ trong sổ thông hành của TC cho thấy Đài Loan và vufnh biển phía đông là lãnh thổ Trung Quốc, cũng như hình ảnh các điểm du lịch của Đài Loan.

“Sổ thông hành đại diện cho chủ quyền quốc gia và bản đồ là để dùng trong nội bộ của một quốc gia,” ông Lu Chang-shui nói. “Do đó, Hội đồng về Lục địa sẽ đối phó với tấm bản đồ mới và sổ thông hành khác nhau.”

Lu Chang-shui nói cho biết bản đồ chính thức của chính phủ Cộng hòa Trong Hoa (Taiwan) gồm Lục địa Trung Hoa như là một phần của lãnh thổ (Cộng hòa Trung Hoa), như đã định trong Hiến pháp nước Cộng hòa Trung Hoa.

Trong một diễn biến có liên hệ, Đài truyền hình quốc gia NHật Bản NHK đưa tin ngày hôm qua rằng Nhật Bản sẽ gởi hai tàu tuần tra bổ sung tại bộ chỉ huy phòng vệ bờ biển khu vực chịu trách nhiệm vùng lãnh thổ gồm có quần đảo Senkaku.

Tàu Nhật và tàu TC trên vùng biển gần quần đảo Senkaku
Nguồn ảnh: Sam Yeh/AFP


Hai tàu Kurose, 335 tấn, và Chikuzen 3,100 tấn, có trang bị máy bay trực thăng, sẽ được lần lượt đưa vào hoạt động trong tháng Tám và tháng Mười.

Hãng tin Kyodo đưa tin ngày hôm qua cho hay trong khi đó, tại một cuộc họp tại Sydney vào ngày Chủ nhật, hai Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nhật Bản và Úc, Fumio Kishida và Bob Carr, trong một cuộc họp báo cho hay 2 nước đồng ý để tăng hợp tác song phương về các vấn đề an ninh.

Ngoài ra, Asahi Shimbun đưa tin Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe sẽ, lần đầu tiên, có một chuyến đi đến khu vực Đông Nam Á vào ngày mai kể từ khi nhậm chức vào tháng trước. Mục đích chuyến đi của Shinzo Abe là để tìm cách tăng cường hợp tác với các nước ASEAN về các vấn đề thương mại, năng lượng và an ninh.

Theo  DCVOnline




Nguồn: China to issue new official map of ‘full’ territory. Taipei Times. J. Michael Cole  /  Staff reporter. Additional reporting by Shih Hsiu-chuan and AFP.
Read more…